CHÚ BÉ THẤT SƠN

 

 Một

 

 Chị Thảo ló đầu xuống: “Nè, lên sân thượng chỉ cho xem cái này hay lắm!”

Nam lóc cóc leo lên, cứ một bước nuốt ba bậc thang. Trên sân thượng quang đăng, chị Thảo đứng sát tường nh́n ra ngoài phía núi Sam.

Một cảnh đẹp chưa từng thấy hiện ra trước mắt hai chị em. Ráng chiều màu da cam rực rỡ cuối chân trời. Trên cái nền tuyệt vời đó, dăy Thất Sơn lô nhô màu tím rịm. Những dải mây hay sương núi vắt ngang trời màu tím lợt hơn. Trông cứ như từng dải lụa.

Gió hây hây thổi vào mặt Nam. Nó xoay lưng dựa vào tường nh́n qua phía trời đông. Đến phiên nó choáng ngợp trước một quang cảnh lạ: ăngten tivi đâu mà nhiều quá. Thị xă Châu Đốc nhiều nhà có tivi quá nên hầu hết các nóc đều gắn ăngten. Đặc biệt, chiếc nào cũng dài ba , bốn mét, được gắn vững chăi bằng ống nước. Có lẽ chúng được gắn thật cao để bắt cho được thành phố Hồ Chí Minh hay đài Long Xuyên. Ăngten chạy dọc từ đông sang Tây thị xă, từ những dăy nhà gần đến cuối chân núi Sam xa tít, tạo thành lắm đường nét: Nét sổ dọc của cột ăng ten, nét sổ ngang của thân và nhánh, những đường nét nhấp nhô, cao thấp, xa gần. Nam chỉ chị Thảo xem.

-         Nh́n cảnh này, em tưởng tượng ra h́nh ǵ ?

-         Một thoáng rừng thưa

-         Chị nghĩ khác. Giống một dàn hợp xướng

Ư nghĩ chị Thảo thật lạ, có vẻ lăng mạn, bay bổng. Nhưng có lư. Quang cảnh độc đáo này có vẻ ǵ nhịp nhàng, sinh động gợi lên nhịp điệu của một bản nhạc trầm hùng thể hiện bằng h́nh ảnh.

Nó liếc qua chị Thảo. Ánh nắng chiếu vào mặt chị trông ửng hồng, lấp lóa hàm răng ngà. Thấy Nam ngó, chị nheo mắt:

-         Cảnh đẹp quá! Ở Sài G̣n , chị em ḿnh làm sao thấy được những cảnh này.

-         Nhưng Sài G̣n vui hơn. Ở đây buồn thiu hà. Thị xă ǵ đi mấy ṿng đă hết!  -  Nam phản đối.

-         Rồi em sẽ thấy -  Chị lại nheo mắt cười - Ở đây có nhiều thứ ngộ lắm… Nè, em có ăn thịt chuột bao giờ chưa?

-         Khiếp quá, ai lại ăn thịt chuột?

-         Quê một cục. Thịt chuột đồng ăn lúa béo mềm, ngon hơn thịt gà… Em ăn thử món cá linh kho nhừ xương chưa… Hết xẩy đó nghen, c̣n hơn cá hộp Savico nữa. Nước cá kho chấm bông điên điển em ăn cả chục chén cơm chưa đă…

-         Nói nghe phát thèm…

-         C̣n món mắm ruột nè…

-         Ủa, bộ người ta lấy ruột làm mắm hả?

Chị Thảo bật cười: “Có thể là vậy. Đó là món mắm thái má hay làm cho mi ăn với bún đó. Mắm thái,  ở đây gọi là mắm ruột. Đặc sản Châu Đốc đó em…

-         C̣n ǵ nữa chị kể tiếp.

-         C̣n thịt rùa, thịt rắn nè…

-         Ghê quá!  -   Nam trề môi  -  Chị là con gái mà biết ăn toàn thứ dữ không!

-         Đâu có sao em. Lúc đầu cũng sợ lắm. Nhưng gặp mấy bữa thực tập đói bụng ăn tuốt luốt. Thôi, nói nữa bắt đầu thèm, đói bụng rồi, chị em ḿnh xuống ăn cơm đi. Mai ra nhà ông ngoại tha hồ ăn…

Cả hai chậm răi đi xuống. Ngoái lại nh́n, chiều đă nhợt nhạt, chỉ c̣n những khoảng tím sậm cuối trời xa. Đêm đầu tiên ở Châu Đốc đă tới. Chẳng biết những ngày ở đây sẽ ra sao…

 

                                                                        Hai.

 

 

Nam rời Sài G̣n về đây mà ḷng c̣n luyến tiếc. Bọn bạn bè lớp 7A6 giờ có lẽ đă tứ tán khắp các lớp 8 trường Nguyễn Huệ sau đợt sắp xếp lại các lớp. Tụi nó lo học, c̣n ḿnh lang thang đến tận xứ này. Đầu năm học  tức tháng Chín năm ngoái, chỉ học được một tuần Nam bị té xe găy tay, găy cả xương vai. Phải ở nhà vừa băng bó vừa chạy điện suốt ba tháng. Đến khi khỏe hẳn, mới thấy đi đứt cả học kỳ. Vừa định xin học trở lại, cơn bệnh sốt xuất huyết ập đến. Nam trở lại bệnh viện lần nữa, vừa nốc thuốc hàng đống vừa uống nước cam, nước chanh liền liền. Khỏi bệnh, má tuyên bố: “ Con đừng buồn chi cả, từ nay con cứ  nghỉ ngơi cho khỏe. Năm tới xin đi học lại”. Đành rằng Nam học sớm một năm, nhưng nghĩ tới chuyện năm tới phải học chung với đám lớp 7 “đàn em” vừa tấn lên thật không khoái tí nào. Thấy Nam có vẻ xanh xao, nhân chuyến chị Thảo xin đi thực tế để làm luận văn tốt nghiệp ở quê ngoại, má cho Nam đi theo. Má nói: “Tạng con ở đồng quê thích hợp. Muốn ở mấy tháng cũng được”. Đắn đo dùng dằng măi Nam mới chịu xa thành phố với đủ thứ sách báo, tṛ chơi điện tử, phim ảnh. Vả lại những kỷ niệm của những ngày hè ngắn ngủi bên ông ngoại khi c̣n bé Nam vẫn chưa quên. Sáng nay, hai chị em khăn gói lên đường. Đến Châu Đốc , cả hai tạm một đêm tại nhà cậu Sáu rồi sáng hôm sau mới vô nhà ngoại bên Vĩnh Nguơn, bên kia bờ con kinh Vĩnh Tế.

Căn nhà cũ của ông ngoại vẫn như xưa chẳng có chút nào thay đổi. Chỉ riêng mớ hoa kiểng trước nhà có thêm dăy chậu sứ Thái Lan màu hồng kiêu sa là hơi có vẻ tương phản với khung cảnh quê mùa ở đây. D́ Mười dắt hai chị em ra vườn. Cây me đặc ngật những quả chin lủng lỉu trong ngon mắt. Chị Thảo chợt túm lấy vai Nam:

-         Xem con ǵ ḱa?

Một con vật lấp ló sau chạc ba cây me keo. Chẳng có ǵ lạ, đó chỉ là một con khỉ con với đôi mắt to tṛn luôn luôn nh́n như ḍ hỏi. Có lẽ chị Thảo quên, năm ngoái sau chuyến về thăm ngoại, chị có kể ông ngoại đang nuôi một con khỉ kia mà. Nam chợt buột miệng: “Ông ngoại sao lâu về quá vậy, d́ Mười?”

-         Không biết nữa. Có lẽ c̣n phải lo đám ruộng bị đám rầy nâu. Mấy con vào nhà nghỉ ngơi, tắm rửa đi, ông về ngay đó mà.

Nằm trên đi văng ngó mấy cái cây ngại sân nhà cũng chán, Nam ra cái vơng chỗ chị Thảo nằm:

-         Hay là ḿnh ra chỗ ngoại, chị Thảo ?.

Chị Thảo ngó ra ngoài trời đang kéo mây về đầy ắp trời Châu Đốc. Liệu mưa có đến không? Chị Thảo bật dậy:

-         Đi th́ đi, để chị lấy cái túi xách.

Chị Thảo đi trước mang đôi kính râm, cái nón trắng in chữ “Sài G̣n tourist”. Đi đường ruộng, chân chị đánh thoăn thoắt như trên mặt đường nhựa, thiệt dễ nể. Nam ngó mông ra xa. Cánh đồng Vĩnh Nguơn lúa chin không đều, khoảnh chin vàng, khoảnh khác xanh non. Lại có vô số con bọ li ti, giống thứ côn trùng hay bám vào bóng đèn của nhà cậu Sáu. “Rầy nâu đó em!”. Nam trố mắt, ra đây chính là thứ côn trùng phá lúa lâu nay báo vẫn thường nhắc. Ngẫm lại công lao nhà nông bỏ ra để thu hạt lúa không dễ dàng.

Một, hai, ba rồi một loạt những giọt nước nhểu mạnh xuống người Nam. Mưa! Quay lại thấy chị Thảo đang cuống quưt chạy bươn theo cái nón bị gió giật lăn long lốc xuống ruộng. Nam vọt nhanh hơn, túm lấy: “Nhanh lên chị, vô cái lều vịt kia!:. Hai chị em vừa sà vào lều, mưa ào xuống như trút. Rất hên, không ai bị ướt nhiều.

Thật may, trong lều lại có một tấm phên đủ che một cửa lều. Hai chị em ngồi rúc sâu vào trong. Mưa nhiều nhưng gió không mạnh lắm, đỡ tạt. Nh́n màn mưa trắng xóa, Nam buột miệng: “Rầu thúi ruột, hết cả đi đứng!”. Chị Thảo bụm miệng cười: “Nói giống mấy bà cụ quá!”

Tù và giọng thổi bưng cầu

Năm mươi công cấy ăn trầu đỏ chét

Tấm lá buông cây suôn ḷng đét

Đưa em về Sa Đéc bán thịt…

Một giọng đọc lạ lẫm vang ngân giữa trời mưa lâm thâm. Nam chợt ph́ cười v́ vần điệu ngô nghê của chúng. Nh́n sang nó thấy chị Thảo dường như lắng tai nghe. Rồi chị bỗng cuống quít: “Cây viết, em có cây viết không? Hay quá!” “ Cái ǵ hay chị?”  “Em không nghe hả?... Suỵt!” . Chị Thảo lại lắng nghe như nuốt từng lời. Ai đó đi dọc theo bờ ruộng đă đọc những câu thơ ḱ cục ấy. Giọng đọc con trai c̣n trẻ cỡ tuổi Nam là cùng.

Sớm mơi con mắt lim dim

Tay bưng thúng cám đi t́m con vịt

Vác đôi trâu kích đi cày ruộng lịch

Quanh thá ví ḍ tay chắp roi ổi

Ống quyển dài khen ai khéo thổi…

-         Nam!

-         Dạ!

-         Em ngó xem ai đọc mấy câu đó vậy?.

Cái chị này lạ lùng, có mấy câu thơ tức cười mà quan tâm dữ vậy. Nam ḅ ra, thấy một thằng nhỏ đen thui tay cầm giỏ đựng cá vừa đi vừa nghêu ngao dưới trời mưa, chẳng lo cái thân đang ướt át. Nam thụt đầu vô: “Thằng nhỏ chăn trâu chứ có ai đâu !”.

-         Em ngoắc nó vô đây cho chị.

-         Khỏi lo, em thấy nó đang đi tới cái lều này rồi. Dám cái lều này của nó cũng nên.

Nam vừa dứt lời th́ hai bàn chân của anh chàng đen thùi đă đứng trước cửa lều. Nó hỏi giọng rụt rè:

-         Ai trong lều của tui vậy?

-         Cho ngồi tránh mưa một tí em trai ơi!

Giọng chị Thảo ngọt xớt. Thằng bé chui đầu vào:

-         Dạ không sao, chị cứ tự nhiên. “muôn sự của chung” mờ.

Nam phát tức cười. Thằng nhỏ nhà quê này “lư sự” dữ đa. Trong lúc nó lo cất cái giỏ và cần câu, Nam lặng lẽ quan sát. Trông mặt mũi hắn ta cũng sáng sủa. Chỉ tiếc nước da đen quá.

-         Chị với tṛ này ở Long Xuyên “d́a” chơi phải hôn?

“Tṛ”, “d́a” toàn những tiếng thật ngộ, không kém mấy câu vè hồi năy. Chị Thảo dịu dàng hỏi nó vài câu. Thằng nhỏ kể tên nó là Siêng, nhà ở ấp 4 ra đây chăn trâu cho ông Tư To ở xóm Bầu Trôm. Cái thằng đẹt ngắt như vậy mà lớn hơn Nam một tuổi.

-         Vậy em nghỉ học rồi?

-         Dạ c̣n chứ, nhưng học lớp “đim”

-         Lớp “đim” là lớp ǵ? -  Nam buột miệng hỏi.

      -     Lớp buổi tối đó. Quên nữa,  -  nó bẽn lẽn, -  Em quen miệng gọi đim. Em học chung với nhiều người lớn lắm. Lớp 8 ở xóm không có, em phải qua bên kia kinh, học Lớp bổ túc văn hóa.

Tự dưng Nam thấy có thích thằng này. Phải chăn trâu như nó , tối c̣n đi bộ từ Vĩnh Nguơn, qua đ̣ sang bên kia thị xă để đi học . Tên nó là Siêng cũng phải.

-         Mấy câu hồi năy ai dạy cho em vậy?

-         Dạ, má em

-         Khi nào rảnh, em chép lại cho chị nghen!

-         Dạ, miễn là gặp chị nữa.

-         Tất nhiên là c̣n gặp nữa. Ông ngoại chị, người ta gọi là ông Tám, nhà ở xóm 4 gần nhà ông Tư To chứ đâu.

Nam xen vào: “Chị chép mấy câu đó làm chi?”

-         Ủa, em quên rồi hả? Chị về đây để sưu tầm văn học dân gian mờ. -  Chị Thảo trả lời rồi quay sang Siêng -  Má em chắc thuộc nhiều câu ca dao lắm hở?.  Bữa nào em dẫn chị qua thăm má em nghen!

Thằng Siêng cúi mặt, nói nhỏ: “Dạ, má em mất lâu rồi”.

Chị Thảo có vẻ bối rối, đặt tay lên vai nó: “Vậy hả, xin lỗi em, c̣n ba…”

-         Cũng vậy. Mất hồi em c̣n nhỏ…

Ḷng Nam se lại. Chị Thảo lộ vẻ bất nhẫn:

-         Bây giờ em sống với ai vậy?

-         Dạ, em chăn trâu cho ông Tư To. Tối em ngủ ở nhà ổng hoặc ngoài lều. À…

 Thằng Siêng chợt nhổm người dậy, nó nói qua chuyện khác :  Chị với tṛ này có lạnh không? Để em đốt lửa cho ấm. Bữa nay bổng dưng gặp nhau, ba chị em ḿnh “nhậu” một bữa chơi.

-         Ủa, tụi chị đâu biết nhậu!? -  Chị Thảo tṛn mắt

-         Em giỡn thôi. Nhậu với nước trà “mắc cỡ”.

Siêng lôi ra từ góc lều mớ củi khô. Nó móc quẹt diêm từ trong cái bao nylong, nhóm lửa. Động tác sắp củi, bật lửa che gió của nó thật điệu nghệ. Củi nhóm xong, nó lôi từ góc lều ba ḥn gạch làm bếp, cả cái ấm đất, một chai nước mắm, một nhúm cỏ khô trong túi nylong, cả một cái hũ đen đen ra. Chị Thảo và Nam nh́n nhau cười. Ai dè có cả “tài sản” trong lều  mà đâu có ai biết. Siêng bỏ mớ cỏ khô vô ấm, đặt lên bếp. Trong lúc đợi nước sôi, nó lôi mấy con cá lóc từ giỏ ra. “Cá lóc bự quá!”. Chị Thảo xuưt xoa . “Em mới tát đ́a cho hàng xóm. Họ cho em mấy con”. Nó lấy một cây xiên nhọn trên nóc lều, xiên lút sâu vào miệng cá. Xong xuôi, nó tḥ tay ra ng̣ai lều, móc lớp đất sét sát mép bờ ruộng. Rồi nó bọc đất sét chung quanh con cá. Một đầu thanh sắt được ghim xuống đất, giữa đám củi lửa. Siêng bỏ thêm củi, thổi cho ngọn lửa bùng lên, liếm lem lém vào cục đất sét có cá bên trong.

Nước sôi ùng ục trong ấm, Siêng bắc ấm nước xuống:

-         Em chỉ có một cái ly để uống…. Đợi em một chút

Thằng Siêng bươn ra khỏi lều. Chị Thảo rót ly nước: “Uống đi cho ấm bụng”.

-         Nước ǵ vậy chị, đâu phải trà.

-         Lá mắc cỡ khô đó.

-         Uống có sao không?

-         Không sao. Cũng là vị thuốc đó em, uống vô mát gan.

Ly nước có mùi thơm lạ, dễ chịu và ấm bụng.

Thằng Siêng vọt từ ngoài lều vào bếp, tay cầm mớ rơm khô bọc trong áo. Nó đặt rơm giữa bếp lửa. Ngọn lửa bùng mạnh, đỏ rực. Siêng với tay đưa chị Thảo một cái hũ đen. Chị Thảo mở ra , ngửi ngửi.

-         Nước mắm me phải không?. Đưa chị!

Chị Thảo nhanh nhẹn lôi mấy cục me chin ra khỏi hủ. Chị chiết nước mắm ra chén, bỏ vài cục me vào.

Cục đất sét bọc con cá giờ đă khô trắng. Thằng Siêng thận trọng dùng rơm lót tay cầm cây xiên sắt ra. Nó gơ khe khẽ xuống đất rồi bóc từng miếng đất sét một. Sau lớp đất sét, lớp thịt mềm của con cá lóc lộ ra trắng bong, thơm phức. Thiệt lạ, thịt con cá không dính một tí đất sét, nó chín ươm, mọng nước thật hấp dẫn. Siêng đặt con cá lên cái dĩa duy nhất có trong bếp.

-         Chị và tṛ này ăn trước nghen!. Em làm tiếp con nữa.

Đợi nướng xong con thứ hai, chị Thảo và Nam mới ngồi vào. Con cá lóc nướng chấm nước mắm me ăn tới đâu biết tới đó. Vị cá mới ngọt làm sao!. Nó cộng hưởng với vị nước mắm mặn, me chua thành một hương vị ngon lạ hầu như Nam chưa có dịp ăn lâu nay. Nó ngon hơn món cá bỏ ḷ rất đuợc ưa thích ở quán Bảy Ṣ đường Nguyễn Tri Phương mà có lần Nam ăn được.

Nam mải ăn, đến lúc nh́n lên th́ thấy thằng Siêng đang ngó nó, miệng cười tươi rói. Mắc cỡ quá, nó nói lảng với chị Thảo:

-         Món này ngon quá. Em nghe ba nói có món cá lóc nướng trui ngon lắm, chắc không bằng món này đâu hén.

-         Đây là cá lóc nướng trui chứ c̣n ǵ nữa !. Chị Thảo ph́ cười. Thằng Siêng cũng nhe răng cười. Nhưng không phải cười chọc quê, Nam cảm thấy như thế. Nam bổng thấy Siêng thật dễ thương. Nó cũng bật cười.

 

 

Ba

 

 

Ánh nắng trưa dọi xuống ḍng kinh chói chang khiến Nam phải dùng tay che mắt. Xuồng lướt giữa hai bờ kinh Vĩnh Tế mọc đầy những ngôi nhà sàn. Mới năm nào c̣n nghe nói pháo của lính Pôn Pốt câu tới tận đây, giờ tràn ngập một không khí thanh b́nh. Nam mải miết nh́n những rặng ô môi mọc xen giữa các căn nhà. Đẹp làm sao những bong ô môi đỏ phơn phớt tím. Bỗng chốc Nam thấy gần gũi cái không khí  thôn dă ở đây. Nó không nhộn nhịp và mới lạ từng ngày như ở thành phố Nam sống. Nhưng dần dà nó khiến Nam yêu mến. Có lúc Nam  thấy ḿnh ngây ngất trước vẻ đẹp của những buổi chiều vàng trên đường làng, của một đêm trắng yên tĩnh và mộng mơ khi nằm trên chiếc chiếu ngó trời. Sau những  buổi dầm mưa ở đây, nó ngạc nhiên thấy ḿnh không dễ bị sụt sịt mũi như ở thành phố. Và những buổi trưa thật dễ chịu khi nằm trên chiếc vơng giăng ở cột nhà, đung đưa đón gió đồng, ch́m vào giấc ngủ thật sâu, không mộng mị. C̣n có cả t́nh người của những cô Sáu, thím Ba, d́ Mười, anh Bảy hiền ḥa, luôn có nụ cười chân chất như lúa như khoai… Bất giác, Nam nghĩ đến thằng Siêng… Sau buổi chiều mưa, Nam và chị Thảo chưa gặp lại nó. Có lần hai chị em qua nhà ông Tư To hỏi thăm, ổng chỉ ra đồng với vẻ mặt vừa khó chịu vừa ngạc nhiên. Hẳn ông không thể hiểu nỗi hai chị em mới ở thành phố về bỗng dưng lại có quen biết với thằng nhỏ chăn trâu nhà ông. Và chắc hẳn ông không muốn  có ai đó có thể khiến nó xao lăng việc nhà của ông.

Ánh nắng xiên khoai lọt vào khoang chiếc ghe máy. Nam quay vào. Ông ngoại năy giờ ngồi điều khiển cần lái hỏi vọng ra trước: “Sao không ngủ?”. “Dạ, cháu không buồn ngủ”. Tiếng nói chuyện làm chị Thảo mở mắt. Chị lồm cồm ḅ ra, ngồi cạnh Nam. Hai chị em ngó mặt kinh mênh mông với đủ thứ ghe: ghe chài chở lúa, đen và tṛn như bụng trâu, ghe cui, ghe cà-ron, ghe chở cá chở trái cây, ghe bầu thon thon nhẹ nhàng và đẹp. Chúng qua lại trên kinh  ở hai tuyến như xe trên đường phố.

-         Trông ḱa, ai như thằng Siêng đi trên bờ, đúng không?. Chị Thảo trỏ lên bờ.

Quả đúng thằng Siêng. Nó đi nhanh như chạy dọc theo bờ, vai lủng lẳng đeo cái túi may bằng vải bao bố đựng gạo. Nam cuống quưt gọi to: “Siêng! Siêng!”. “Nó không nghe. Làm sao bây giờ chị?” “Để chị nói ông ngoại tấp vô cho nó quá giang”.

Chị Thảo ḅ ra phía sau lái nói nhỏ với ông. Máy tắt. Con thuyền quay mũi lướt êm ru vào bờ đúng lúc thằng Siêng chạy tới. Trán nó lấp xấp mồ hôi.

-         Siêng, Siêng, lên đây ông chị chở cho quá giang nè!

Thằng Siêng không từ chối, đi lần xuống mép nước rồi bước xuống ghe. Thoáng chút mừng rỡ trên gương mặt mệt mỏi của nó. Ông ngoại cười hiền, gật đầu khi thằng Siêng thưa. “Có phải cháu chăn trâu cho ông Tư To?” “Dạ!”. “Có cực lắm hôn?” Thằng Siêng đáp nhỏ: “Dạ, không cực lắm!” ông ngoại chăm chú nh́n nó rồi nổ máy.

-         Em đi đâu về ? -  Chị Thảo ân cần hỏi.

-         Em ra thị xă mua mớ giấy bút với mấy quyển sách. Sắp thi học kỳ đến nơi rồi.

-         Thế trâu bỏ cho ai?

-         Em nhờ tụi bạn trông, chị ạ. Nhưng em không yên bụng nên đang ráng chạy về cho lẹ.

Khác với nét sôi nổi hôm trước, thằng Siêng có vẻ suy tư hơn. Da nó đen sạm hẳn. Nh́n kỹ, trên cánh tay nó có mấy vệt đỏ tím. Vết xước hay lằn roi?. Thấy Nam nh́n, nó cười rồi chỉ ra bờ sông:

-         Ư coi ḱa, có một con rắn đang trôi, thấy không?

Con rắn dài cỡ một thước, đă chết, trôi lững lờ trên ḍng nước. Cảnh hiếm thấy ở Sài g̣n. Thằng Siêng nói :

-         Thấy con rắn trôi, Siêng nhớ một chuyện hồi ở núi Sập…

-         Núi Sập ở đâu?-  Nam cắt ngang

-         Đó là một ḥn núi trong huyện Thoại Sơn. Ở đó nghe nói người ta đào được nhiều chiếc b́nh bằng sành và nải chuối, buồng cau đúc bằng vàng…

-         ….

-         Chuyện xưa kể rằng dân núi Sập bắt được một người trẻ tuổi từ trên núi xuống hái trộm dừa. Thấy ông ta hiền lành dân không bắt tội. Ông ta liền xin tạ lỗi bằng cách xem mạch hốt thuốc cho bà con. Ông chữa đâu lành đó, nhất là bệnh con nít. Mà ông c̣n chữa bệnh điên nữa. Chữa hay lắm!

-         Hay. Rồi sao nữa?.

Chị Thảo năy giờ ngồi tựa mạn ghe, cầm cây bút hí hoáy viết ǵ đó. Nam ngó thằng Siêng, chờ đợi. Hiểu ư, nó kể tiếp:

-         Chữa bệnh cho bao nhiêu người, ông ăn trộm dừa đều cứu được hết. Nhưng có lần ông gặp phải con bệnh ngặt. Đó là con một vị quan đại thần. Ông nh́n đứa nhỏ rồi nói: Con bệnh này yếu lắm. Nếu chữa lành tôi phải chết thế nó v́ động đến ông bà ở dưới đất. Nếu con bệnh chết, tôi c̣n sống thêm ít lâu nữa. Để tôi thiếp đi hỏi lệnh trên thế nào.

Ông nằm xuống đất, nhắm mắt “thiếp” rồi mất luôn. Thằng bé tự dưng hết bệnh. Nhớ ơn ông, người ta xây một ngôi tháp thờ ở núi Sập. Gọi là tháp thầy Sanh.

-         Sao Siêng biết chuyện đó?

-         Có lần Siêng đưa trâu về chân núi Sập. Hôm đó là mồng 5 tháng 5, ngày cúng thầy Sanh, người ta kể lại.

Ghe đi x́nh xịch qua bao dăy nhà. Ruộng lúa dần hiện ra hai bên bờ kinh. Mùa này nước chưa lớn nhưng trông trời nước vẫn mênh mông. Có tiếng ông ngoại cất lên trong tiếng máy nổ: “Thảo ơi!”. “Dạ!”. Ông ngoại chỉ thằng Siêng: “Cháu kêu thằng nhỏ kia ông hỏi”.

-         Nè,  - Ông ngoại cất tiếng, - cháu sống ở đây. Vậy cháu có biết con kinh Vĩnh Tế này do ai đào không?

Nam ngó thằng Siêng. Thử coi anh chàng này “cỡ” nào. Nó lễ phép trả lời:

-         Dạ, biết. Người chỉ huy đào kinh là ông Nguyễn Văn Thoại.

-         Cháu biết ǵ về ổng…

-         Ổng làm tới chức Hầu phải không ạ? Ổng quê ngoài Trung, đất Quảng Nam chi đó, vô đây khai phá bốn tỉnh Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, rồi đào con kênh này kéo từ Châu Đốc tới tận Hà Tiên. Nghe nói, khi đào có tới hang chục ngàn người chết v́ muỗi ṃng, bệnh tật, thú dữ…

-         Cháu biết chính xác năm nào đào kinh không? -  Ông ngoại chăm chú hỏi.

-         Dạ h́nh như là năm 1818

-         Sao cháu biết? -  Ông mỉm cười hỏi gặng.

-         Cháu đọc trong sách ạ.

Ông ngoại gật gù. Nhưng Nam không thích chuyện đào kinh lắm. Nó c̣n muốn nghe những sự tích kỳ lạ ở đây hơn. Nam giục:

-         Kể chuyện khác đi Siêng!

Thằng Siêng ngó ra sông. Nó kể một chuyện xảy ra ở ngay núi Sam này. Hồi trước ở đây có một đàn khỉ phá phách rất dữ. Chúng thường phá rẫy lấy cắp khoai ḿ. Dân lành không sao chịu nổi, nhưng chưa t́m được cách đuổi hay diệt chúng được. Người bị chúng phá nhiều nhất là ông Ba Cổ.

Một hôm thấy đám rẫy của ḿnh bị phá tan tành, ông Ba Cổ nổi xung thiên vác sao rượt theo chúng tuốt vô rừng. Bầy khỉ chạy tới hẻm núi đột nhiên ré hoảng lên. Con khỉ đột đầu đàn vội leo lên cây vông cao nhất. Cả bầy lên theo. Ông Ba Cổ ngó quanh, thấy một con cọp trong bụi. Hoảng quá, ông cũng vọt lên một cây gần đó.

Con cọp đến gốc vông ŕnh bầy khỉ. Nhảy lên mấy lần không tới, nó rơi xuống và nằm lăn ra, buông thơng bốn chân. Khỉ đầu đàn thấy vậy, chuyền xuống nghe ngóng. Nó ném khoai ḿ, cành cây xuống, con cọp nằm im. Liệng tiếp một con khỉ con rồi con thứ hai, con cọp không nhúc nhích. Khỉ đột liền xuống đất. Vừa tới nơi, cọp vùng dậy tát khỉ đầu đàn chết tươi. Ông Ba Cổ lúc đó ngồi trên cây xem vừa sợ, vừa thấy “đă”.

-         Con cọp khôn “dàn trời mây”. -  Nam buột miệng.

Ông ngoại năy giờ lắng nghe, chậm răi nói:

-         Chuyện này ông có nghe kể loáng thoáng nhưng không  nhiều chi tiết như cháu kể. Ai kể cháu nghe?

-         Má cháu ạ.

-         Má cháu làm ǵ? Nhà cháu trước ở đâu?

-         Dạ, má cháu mất rồi. Trước đây dạy học ở Tịnh Biên. C̣n nhà ở xóm G̣ Mối.

-         Uở?. Ông ngoại nhíu mày: Cháu có phải con Tư Thu, giáo Thủy?

-         Đúng ạ.

Ông lẩm bẩm: “Hèn chi. Tao sống gần Tư To lại không biết con là con giáo Thủy, Tư Thu.

Không khí chùng xuống giữa tiếng x́nh xịch của máy đuôi tôm. Tiếng gà eo óc gáy bên bờ kinh. Xuồng tới xóm Bốn. Thấp thoáng vườn cau nhà ông Tư To. Xa hơn nữa là mái ngói nhà ông ngoại. Sắp tới đó, thằng Siêng xin lên bờ. Nó đi ngược ra đồng tiếp tục giữ đàn trâu.

“Tư Thu với giáo Thủy ông không lạ ǵ…”. Ông ngọai đi trước dọc theo con đường ṃn về nhà, chậm răi nói. “Trước anh ta có đám ruộng sát chân núi Sam. Là nông dân nhưng chịu khó đọc sách. Những lúc ghé nhà ông chơi hay có lần đến giúp ông xây cái nhà sau, ảnh đều xin được ngó tủ sách. Đặc biệt, Tư Thu rất ghét nhậu nhẹt .

Nhưng trời không thương người hiền . Một bữa vô rừng dưới chân núi, ảnh bị rắn “chàm quạp” cắn. Lúc đó hay tin ông chạy xuồng vô tới xóm G̣ Mối mang củ “nầng” định xắt ra giải độc cho ảnh nhưng không kịp. Sau đó, cô giáo Thủy tức má thằng Siêng đổi đi dạy học ở Tịnh Biên. Thằng Siêng đi theo. Đến năm 1978, lính Pôn Pốt qua giết dân ḿnh. Cô giáo Thủy do mải lo cho mấy đứa học tṛ nên bị tụi nó giết chết…

Ông ngoại ngừng nói, nhíu mày như cố nhớ lại:

-         Riêng chuyện má thằng Siêng, cũng được bà con biết nhiều v́ sau đó tờ báo tỉnh ḿnh có viết về cô ấy. Bài báo kể , khi tụi Pôn Pốt kéo qua, cô cùng đám học tṛ chạy về hướng thị trấn Tịnh Biên. Chạy được một đoạn đường, cô lộn trở lại t́m nốt số học tṛ c̣n sót. Gặp được chúng cô t́m cách đưa về nơi an toàn nhưng không kịp. Lính Pôn Pốt giết sạch mấy cô tṛ cùng một số dân chậm chân. Ông nghe nói cô c̣n đứa con ba bốn tuổi thoát chết nhờ theo người thân dắt về Long Xuyên chơi. Vậy Siêng là đứa con c̣n lại đó.. Tội nghiệp, nó lưu lạc về đây. Giờ phải đi chăn trâu…

Bước chân Nam nặng chịch.  Cảnh thanh b́nh yên tĩnh ở đây không chỉ chứa đựng những số phận êm đềm như lũy tre xanh soi bóng dưới ḷng kinh. Thằng Siêng, chỉ trạc tuổi Nam mà phải nếm trải đau buồn to lớn như vậy.

Giọng chị Thảo:

-         Ông, con thấy thằng Siêng cực khổ lam lũ nhưng ham học lắm. Ông biết không, có đứa chăn trâu nào lại chịu khó đi học lớp đêm như nó đâu.

-         Biết, ông nghe nó nói chuyện đủ biết không giống con người ta. Có lẽ hưởng được khí chất của ba má nó…

Ông ngoại buông lửng lời nói, rảo bước nhanh hơn. Trời đă về chiều. Đàn muỗi vo ve trong khóm chuối. Ba ông cháu mỗi người đeo đuổi một ư nghĩ.

 

 

 

Bốn.

 

 

Nắng sớm ở nông thôn đến rất nhanh. Mới bảy giờ rưỡi, đồng ruộng ngập nắng chói chang. Đàn trâu của Siêng nhởn nhơ gặm cỏ ngoài băi ven triền núi. Siêng và Nam ngồi trên mô đất giữa nắng ấm.

-         Nếu đang ở thành phố, ḿnh đang sinh hoạt Đội hoặc đi cắm trại ở sở thú, Tao Đàn hay Văn Thánh. Nam kể.

-         Chủ nhật dành cho sinh hoạt đội?. Thích há. Ḿnh cũng thích được như vậy . Lớp đêm của ḿnh toàn những bạn phải đi làm thêm, hầu như không có ngày chủ nhật. Sinh hoạt đội lại không được tổ chức ở lớp đêm. Chỉ thỉnh thoảng các anh chị ở Thị đoàn làm một buổi cắm trại, lửa trại.

-         Vậy cuộc sống của Siêng buồn thiệt!

Nói đến đó, Nam giật ḿnh v́ lỡ lời. Nhưng Siêng có vẻ không để ư đến. Hay có biết nhưng lờ đi. Siêng đứng dậy:

-         Ở nhà quê c̣n thiếu đủ thứ nhưng có nhiều cái vui.  Nam đi theo ḿnh !.

Siêng dẫn Nam đến một căn nhà lá lụp sụp sát chân núi. Trong nhà một ông lăo vạm vỡ, da đen trùi trũi nằm đong đưa trên vơng. Trên người ông quấn độc một cái xà rông cũ kỹ. Thấy Siêng bước vào, ông lập tức bật dậy:

-         Ǵ đó Siêng?

-         Cháu lấy cái cần câu.

-         Lấy đi. Ông c̣n mớ trứng kiến, bỏ sau bếp. -  Nói xong ông ngả lưng xuống vơng , cũng nhanh như lúc ngồi dậy. Dường như trong nhà tối quá, ông không kịp ngó thấy Nam. Nghe tiếng nó chào, ông lại bật dậy lần nữa:

-         Ờ, cháu đi câu vui hén. Trưa tụi cháu ghé lại đây nghen.

Lần này, ông không ngả lưng xuống ngay.

Ra tới cửa, Nam nghe ông lẩm bẩm:

-         Con cái nhà ai mà trắng bóc, dễ thương hết sức !

Thằng Siêng tủm tỉm cười.

Ra tới đám ruộng lấp xấp nước cách đàn trâu vài chục thước, Siêng dừng lại. Nó dùng mồi móc những hạt trăng trắng đă được vê viên vào lưỡi câu: “Trứng kiến nè, Nam biết không?”

Nam ngó kỹ những hạt trắng trong, tṛn nhỏ hơn hạt gạo một chút trên tay. Ra đây là trứng kiến. Nó nhớ đă đọc trong quyển sách nào đó, có viết rằng người ta chế biến món xôi nấu bằng nếp với trứng kiến ăn rất ngon.

Dưới ruộng sao lắm cá rô non bằng hai ngón tay. Siêng giật cần liên tục. Chuyền cần câu qua Nam nó cũng giật được mấy chú. Cả giờ, hai đứa câu được một giỏ đầy.

Siêng thủ thỉ nói:

-         Nếu có dịp , ḿnh đi câu cắm thích hơn, lại đỡ mệt. Câu cắm phải đi lúc chạng vạng tối khoảng sáu giờ. Một lần mang cả năm, sáu chục chiếc cần, có khi cả trăm cần. Cần câu cắm làm bằng tre chớ không bằng trúc như chiếc này. Nó chỉ dài năm tất vót đầu to xuống, dài dài dọc theo bờ ruộng. Cắm làm sao cho lưỡi câu là đà dưới mặt nước…

-         Câu bằng mấy chục cần, chắc phải tốn trứng kiến dữ lắm? -  Nam thắc mắc.

-         Không dùng mồi bằng trứng kiến, nếu câu cá lóc, cần đi đào dế nhũi, trùn đất làm mồi. Câu cá trê vàng , dùng mồi bằng ong non trộn với sáp.

-         Ngộ quá! -  Nam thích chí  -  Cắm câu ở đó, khi nào mới biết cá dính câu?

-         Độ ba giờ sau phải ra thăm. Ở xa đă nghe tiếng cá quẫy sổn sổn rồi. Có đêm kiếm được năm sáu kư cá là thường.

Nam mải nghe, quên cả giật dây câu. Siêng với tay giật lên giúp, một chú cá rô to, to nhất trong mớ cá câu được, lủng lẳng đầu dây.

Câu cá xong, hai đứa ra ao tắm. Đến phiên thằng Siêng phục Nam v́ tài bơi. Món bơi bướm của Nam thiệt đẹp, chẳng bù với tṛ bơi ếch nhổm lên nhổm xuống của Siêng. Siêng đâu biết rằng, có một dạo dài, hồ bơi nhà Văn hóa Lao động không hề vắng mặt Nam ngày nào. Ở nhà Nam c̣n treo một huy chương giải bơi thiếu niên cấp quận.

Trên đường về, Siêng giải thích: “Ông Sáu Hiệp hồi năy là người Khơ-me. Ông sống một ḿnh trong căn cḥi đó từ khi vợ con ổng bị Pôn Pốt giết. Má ḿnh bị chết chung với gia đ́nh ổng, nên ổng rất thương ḿnh…

Ông Sáu hỏi lúc hai đứa vào nhà:

-         Các cháu đi tắm về, chắc đói bụng lắm hả?

Như được nhắc, cái bụng Nam sôi lên, cồn cào cả ruột. Chưa nghe Nam trả lời, ông Sáu hềnh hệch cười:

-         Chắc đói thiệt rồi. Ông cháu ta làm một bữa khoai ḿ nghen.

Khoai ḿ! Nghe ông già nói, Nam ngán ngẩm. Ngon lành ǵ chứ? Trước mặt Nam hiện lên những khúc khoai ḿ nguội ngắt được bày bán ở căntin trường trong giờ ra chơi, ăn một miếng đă ngán.

Thấy nó ngần ngừ, ông Sáu lại hềnh hệch miệng:

-         Đừng chê nghen. Ông sẽ đăi cháu một bữa khoai ḿ ra tṛ. Để coi!

Thằng Siêng ngó Nam, nháy mắt:

-         Phải đó Nam, để coi, “hết sẩy” mà.

Nó nói rồi quay sang ông Sáu.

-         Ông ơi , con ra nhổ một cây nghen!

Nam lóc cóc theo Siêng:

-         Một cây ḿ th́ được mấy củ hả Siêng?

-         Ư, một cây có cả bụi củ đó, đừng coi thường, ăn hổng hết đâu.

Siêng vác cuốc, hai đứa kéo nhau ra vạc rẫy sau nhà. Trước mắt Nam, dọc theo bờ rào, những vồng khoai ḿ lá xanh non, thân mập mạp đang lắc lư theo chiều gió. Cây nào cũng xanh tốt, cao và thẳng.

Siêng đến bên một hang cây ngắm nghía:

-         Ta đào cây này, chắc nhiều củ?

Nó khom xuống, hạ một nhát cuốc, đào lần quanh bụi cây, moi lên và lật ngửa gốc khoai, cây khoai lật xuống đất, đầy trên băi cỏ một cụm năm, sáu củ khoai tṛn căng, dài thon thả, ướt rượt đất xám màu mỡ.

Về nhà, những củ khoai lập tức được lột ra, tṛn trắng phao trong thau nước.

Củ khoai ḿ mộc mạc, b́nh dân qua bàn tay của ông già Khơ-me trở thành một món ăn hấp dẫn. Khoai ḿ luộc xong với nước dừa xiêm, ông Sáu đánh tơi ra, thoa mỡ hành. Xong, ông sai thằng Siêng ra vườn hái mớ rau sống như húng lủi, húng cây, dấp cá, tía tô… Ông dạy Nam lấy bánh tráng nhúng nước, cuốn với rau sống, khoai ḿ trộn mỡ hành chấm với nước mắm chanh có “chọt” trái ớt cay. Sẵn đói bụng sau một buổi sáng đi câu và bơi lội, Nam chén t́ t́ hết cuốn này đến cuốn khác. Thằng Siêng không kém, ăn với tốc độ “vũ trụ”. Chỉ có ông Sáu ít ăn, ông ngồi cười hềnh hệch nh́n hai đứa.

Ăn xong Siêng nói với ông Sáu.

-         Cháu biếu ông mớ cá rô non. Mớ này, ông chiên xù uống rượu đế là “số một” đó

-         Mày uống rượu đế với cá chiên xù hồi nào mà biết ngon? -  Ông Sáu hóm hỉnh hỏi.

-         Dạ, con chưa thử. Nhưng nghe ai cũng khen ngon…

-         “Chiên xù” là sao, Siêng?.  Nằm dưới gốc cây me hứng gió mát, Nam hỏi.

-         Là chiên để nguyên vẩy, cá rô non mang về ngâm nước muối cho ra nhớt rồi móc ruột. Đổ mỡ vào chảo cho sôi, thả cá nguyên con không đánh vẩy vào. Cá rô non chiên xong khô cong, nhai gịn rụm. Nam biết không, trơi mưa lạnh ăn cá chiên xù nóng có khi phải bới cả chục chén cơm.

Mới ăn trưa xong, nghe thằng Siêng nói c̣n phải nuốt nước miếng. Biết Nam c̣n thích nghe chuyện “đặc sản”, Siêng kể tiếp:

-      Ở miệt này nhà nào có trồng dừa thường được nếm một món ăn độc đáo. Đó là món “đuông chiên”. Một loại sâu…

-         Một loại sâu?. Thiệt à?

-     Đúng, nó là con sâu sống chui rúc trong đọt dừa, thân dừa. Nhà nào thấy đọt dừa héo dần, phải chặt bỏ cây dừa, lấy đuông. Mỗi cây lấy được mươi, mười mấy con là thường. Con nào cũng béo mầm trắng bóc, có ngấn, ngo ngoe y hệt con sâu.

-         Ư ẹ! -  Nam lè lưỡi -  chị Thảo mà thấy được chúng chắc tránh cho thật xa.

-         Lần đầu thấy người ta ăn, Siêng ghê ghê. Đánh liều ăn thử một con đuông lăn bột chiên, ngon và béo thần sầu. Nghe đâu ở Sài G̣n, nhiều người thèm đuông, t́m mua không ra.

Gió mát quá, Nam thiu thiu ngủ, mặc cho thằng Siêng nói say sưa. Nó mơ thấy được ăn một bữa cơm có đủ món: đuông chiên, chuột xào, cá rô non chiên xù. Nó tần ngần quơ đũa và gắp ngay một con sâu có tên là đuông, chiên vàng rộm…

 

 

Năm

 

 

Thắm thoát đă hơn một tháng ở xứ biên giới này. Cảm giác nhớ thành phố của Nam ngày càng mờ nhạt khi đă quen với những đêm đi xiên cá, soi ếch cùng ông ngoại. Những buổi ra đồng với Siêng. Quyển sổ sưu tầm của chị Thảo dày cộm những câu ca dao, những truyền thuyết lạ lùng của miền đất địa đầu. Nắng tháng Tư như mời gọi hoa phượng nở sớm. Sắp tàn một năm học rồi…

Không nhớ thành phố nhiều lắm nhưng cảm giác nhớ trường lớp có lúc dậy lên trong ḷng Nam. Có lẽ nó bắt đầu từ buổi tối qua đ̣ ngang sang kinh Vĩnh Tế với thằng Siêng. Hôm ấy Nam lẻn vào lớp bổ túc văn hóa, ngồi cạnh Siêng. Lớp lố nhố những mái đầu lớn tuổi, đa số là công nhân viên trong thị xă. Ngồi giữa những thanh niên to con, thằng Siêng nhỏ xíu, đen đúa với màu tóc cháy nắng. Nam chứng kiến thằng Siêng thật khá không thua bất cứ đứa học tṛ nào cùng tuổi ở Sài g̣n với những bài giải toán ngay trên bảng, những khi trả lời về một bài văn đang học. Ra về, người được vây quanh không phải là anh chàng lớp trường bệ vệ ra dáng cán bộ xă mà chính là Siêng. Trên đường về qua đ̣ ngang , người lái đ̣ lắc đầu khi Nam ch́a tiền đ̣: “Đi với thằng Siêng hà, d́ cho quá giang”. Trong mắt Nam, Siêng thật “có thớ”. Khi Nam hỏi về chuyện đó, nó cười: “Có thể người ta nể má ḿnh v́ hồi đó, má ḿnh dạy hầu hết con nít ở đây. Học tṛ của má giờ lớn lên, có vợ có chồng cũng nhiều”.

-         Nam ơi.  chị Thảo gọi nhỏ . Đi ra ruộng với chị.

Nam rảo bước theo ra tới cổng, chị kéo tay Nam.

-         Em biết hôn, d́ Mười bảo thằng Siêng cách nay mấy ngày bị đánh một trận dữ lắm. D́ Mười qua nhà ông Tư To đ̣i lại cái xửng hấp xôi, thấy Siêng được anh Cưỡng cháu ông Tư To xát muối vô mấy vết bầm.

-         Sao nó bị đánh, chị?

-         Chị nghe nói một con trâu trong bầy đi lạc vào rừng. Thằng Siêng t́m suốt buổi không được. Về nhà Ông Tư đánh rồi xé tập nó, bảo nó mê học chẳng lo làm lụng. Nó bị đuổi ra khỏi nhà rồi…

-         Hèn chi… -  Nam nhớ hôm kia tạt qua trường không thấy mặt Siêng.

-         Bây giờ nó ở đâu hở chị?

-         Không biết. Ḿnh đi t́m xem..

Ngoài đồng Vĩnh Nguơn, những căn lều vịt giờ đă xác xơ hơn trước. Hai chị em ngó từng túp, chẳng có bóng một ai. Túp lều của Siêng dường như nó c̣n lui tới. Trong góc c̣n hũ muối, chai nước mắm xài dở.

-         Chị nh́n nè!

Nam lôi chiếc chiếu c̣n khá mới được nhét trên mái lều ra. Trong chiếu có cuốn một quyển tập. Lật ra, trang đầu ghi ngày hôm qua. Cho đến hôm qua, Siêng vẫn đến lớp. Hai chị em hiểu cả: Siêng đă dời chỗ ở ra lều.

-         Nghe nói ông Tư To đă giao bầy trâu cho người khác. Phần nó, ông đuổi đi đến khi nào t́m được trâu bị lạc mới cho về.

-         Có lẽ nó đang trong rừng t́m trâu…

Nam ngó mông lung ra phía rừng xa. Cây cối rậm rạp, xanh um, vắng bóng người qua… Một cánh c̣ trắng bay ngang qua nổi bật trên nền cây xanh, rất lẻ loi…

 

                                                                  *

 

Chị Thảo ngoắc Nam: “T́m ra rồi, d́ Mười bảo Siêng bị công an bắt cùng nhiều người, giữ trên đồn biên pḥng sát chợ G̣ Miên”.

-         Trời đất, sao bị bắt?

-         Chẳng hiểu, họ giữ cả chục người lại đồn. D́ Mười ra đồng miệt trên gặp. D́ bảo nó thấy d́, liền quay mặt vô trong. Có lẽ mắc cỡ.

Chị Thảo nhíu mày: “Không hiểu nó làm ǵ để bị bắt, chị không muốn thất vọng về nó. Đói làm bậy, túng làm càn. Chả lẽ…thiệt cái thằng…”

Chị Thảo tiết lộ một chuyện Nam chưa biết: Chị có cho tiền nó xài, cả vải may áo, nó không chịu lấy. Nó chỉ nhận hai quyển tập. Một trong hai quyển Nam có thấy trong chiếc chiếu.

-         Chị…

-         Ǵ?

-         Có biết đường ra chợ G̣ Miên ? Ḿnh ra đó xem sao.

Chị Thảo ngó ra đồng hồ treo tường. Ba giờ rưỡi chiều. Chị với lấy cái mũ: “Đội vào, chị em ḿnh đi…”

Đồng ruộng lầy lụa sau những cơn mưa đầu tháng năm. Những con đường hẹp như thế lại đầy dấu chân người. Chưa bao giờ Nam thấy chị Thảo lội ruộng giỏi thế. Chị đi phăm phăm bằng đôi dép nhựa. Nam bước lạch ạch phía sau, gắng lắm mới theo kịp.

Qua dăy ruộng là tới con kinh đào nhỏ chạy dọc biên giới. Xa xa, dăy chợ trời thuốc lá trơ vơ giữa đồng. Gần hơn một chút là đồn công an. Ở đó có nhiều người đứng lố nhố. Đi tới gần, Nam thấy họ dần tản ra, rồi lũ lượt đi ngược về.

-         Để ư ngó t́m Siêng nghe. Chị Thảo nhắc.

Nam căng mắt nh́n. Nó lập tức nhận ran gay một cái bóng nhỏ. Đích thị thằng Siêng. Không c̣n ai khác…Siêng chạy ù tới.

-         Chị Thảo! Nam!

-         Em…

-         Chị Thảo với Nam đi đâu vậy?  -  Siêng ngước mắt hỏi. Nh́n mắt nó, thấy được cả những ray rứt băn khoăn. Nam nh́n chiếc áo cũn cỡn, tay áo ngắn không che nổi cánh tay gầy guộc của nó. Trên tay, Siêng cần cái bao nylong được xếp gọn lại…

-         Đừng nghĩ xấu về em nghen. Em xấu hổ lắm…

Siêng im bặt, ngó chị Thảo. Chị nhẹ nhàng:: “Em kể tiếp đi”.

-         Em… em hết gạo rồi phải đi làm chuyện này thôi…

-         Chuyện này là chuyện ǵ, hở Siêng? -  Chị Thảo gặng hỏi.

-         Đi “đai” thuốc thuê cho người ta.

“Đai” thuốc. Nam nhớ lời ông ngọai có kể . Người đi “đai” qua chợ trời thuốc lá bên kia biên giới mua thuốc về giá rẻ, nhập lậu vào Việt Nam. Công an được phép bắt giữ, tịch thu thuốc lậu. Nhiều người lớn muốn tránh công an, đă thuê trẻ con làm việc này.

Theo thằng Siêng, sau khi đi t́m con trâu suốt ba ngày không có, nó không dám về, đành ngủ tại cḥi lá, tối lại qua kinh đi học. Cầm cự được một tuần, hết gạo nó đành qua chợ G̣ Miên xin người ta chia thuốc để “đai” về. Thuốc nó lận lưng áo đi bộ hai ba cây số đường ruộng. Gặp công an th́ “vắt gị lên cổ” mà dọt. Bữa nay, xui bị bắt. Cũng may, mấy anh thả nó về…

-         Không đi, làm sao sống…hở chị?

-         Mỗi bữa người ta trả em bao nhiêu?

-         Một ngàn hai ạ!

Một ngàn hai trăm đồng! Bằng đúng một giờ chơi tṛ chơi điện tử. Nam chưng hửng. Sao mà rẻ mạt thế. Đổi lấy ba bốn chuyến băng đồng lội ruộng dưới nắng!. Tóc thằng Siêng hoe vàng, da nó sạm màu lam lũ.

-         Siêng… gặp khó, sao không nói với chị?

-         Dạ, thôi… Chị với Nam quá tốt với em rồi. Vả lại, em định đi đai trong vài tuần  có ít tiền xoay việc khác, bán vé số chẳng hạn. Phải chi đến mùa, em xin đi gặt thuê…

Gần tới xóm, cả ba đi chậm lại. Cái lều của Siêng hiện ra xơ xác, đen ng̣m trong bóng chiều đổ xuống. Xa hơn nữa là ánh đèn điện sáng trắng của những nhà mặt lộ, ánh đèn dầu đỏ quạch của xóm trong… Đó là thế giới đầy ánh sáng, của những bồ lúa đầy ắp, những chuồng heo đông đúc, của những gia đ́nh đầm ấm có mẹ ngồi may, cha đọc truyện Tàu, đàn con trải chiếu nằm hát ngoài cái sân phơi lúa…Cái thế giới không có thằng bé mồ côi, không người thân thích mới mười mấy tuổi đầu tên Siêng.

Đến trước lều, nó dừng lại, ngập ngừng:

-         Bây giờ không dám rủ chị với Nam vào ngồi trong lều. Không đèn, muỗi lắm. Cũng không c̣n củi nấu nước….

Nam ngó qua chị Thảo đang nghĩ đăm chiêu ǵ đó. Thằng Siêng liếc nh́n đồng hồ của chị. Dường như muốn tránh điều ǵ đó, nó buột miệng: “Bây giờ chị với Nam về ăn cơm cho kịp. Em tắm rửa rồi đi học, ngày mai em ghé nhà chị chơi”.

Chị Thảo đặt tay lên vai Siêng. Nó yên lặng cúi đầu.

Một tiếng rưỡi sau, chị Thảo gọi Nam mượn ông ngoại cây đèn băo. Chị xin ông một chục kư gạo, mớ khô tra phồng và chai nước mắm. Chị c̣n cẩn thận mua thêm một cái đèn dầu nhỏ. Ra tới lều vịt, thằng Siêng đi mất tự lúc nào. Chị Thảo cẩn thận treo bịch khô lên nóc lều, bỏ bao gạo vào chiếc thùng gỗ trống rỗng và đặt chiếc đèn lên bàn. Chị lẩm bẩm: “Chắc nó mang bụng đói đi học”. Xong xuôi, hai chị em ra về.

Đêm đó, Nam thấy khó ngủ. Bên kia giường, thỉnh thỏang có tiếng chị Thảo trở ḿnh.

 

 

 

                                                      Sáu.

 

 

Cây phượng độc nhất ở xóm Bốn nở rực rỡ như một đám mây đỏ ối bay thấp. Mùa hè về khiến tâm trạng Nam xuyến xao. Nó chợt buồn khi nghĩ tới đám bạn bè giờ này đang lo thi cử. Sau kỳ thi sẽ là những buổi ngồi chơi xơi nước trong lớp với tâm trạng thoải mái đợi ḱ nghỉ hè. Đến một lúc nào đó là lúc thấy rằng:

Sung sướng quá giờ cuối cùng đă hết.

Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.

Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê.

Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ…(*)

Nghỉ hè, đối với Nam không cần đi đâu xa. Mùa hè tuyệt vời nhất của nó có lẽ ở ngay thành phố thân yêu, thành phố đầy nắng, ồn ào, sôi động. Những ngày hè thích thú với những chiều gió mát, Nam cùng lũ bạn ăn kem trên đường Điện Biên Phủ sau khi chạy nhảy đă đời trong công viên Lê Văn Tám. Hè năm ngoái c̣n có dư âm thích thú khi cả phân đội của Nam đến từng cơ quan xin giấy vụn về làm kế hoạch nhỏ. Buồn cười nhất, cô giám đốc xí nghiệp bánh kẹo khen Nam đẹp trai, đ̣i mười năm nữa sẽ gả con gái. Hôm ấy, Nam đỏ lừ mặt, cả pḥng làm việc cười châm chọc. Nam chợt nhớ nhỏ Thanh hay bận chiếc áo đầm đỏ nhà ờ chợ Phú Nhuận. Năm nay, có lẽ nó về phường tiếp tục sinh hoạt hè. Nam sẽ được…sung sướng “can” lại từng h́nh mẫu cho cô nàng thêu, để được nghe hoài một câu “Anh Nam giỏi dễ sợ!”, để lâu lâu được ăn bắp rang thơm mùi vani cô nàng mua ở chợ Tân Định. Nam muốn bay về thành phố ngay để sà vào ḷng má nhỏng nhẽo, đ̣i mua cho ly sâm bổ lượng. Quan trọng nhất Nam sẽ kể cho má nghe về vùng đất từ lâu má đă xa rời, về những món ăn độc đáo má nghe tên phải lè lưỡi. Nhất là về thằng bạn nhà quê dễ thương, nghèo khổ, cần cù. Nam sẽ xúi má gởi cho Siêng mớ đồ Nam không bận tới kể cả xấp vải trắng c̣n dư để Siêng may áo cho kịp khai giảng.

Nam lần ra trước nhà. Chị Thảo đang ngồi chép lại những bài ca dao từ chiếc máy ghi âm:

-         Chị, sáng nay Siêng có ghé qua không? Em dậy trễ không biết…

-         Có. Siêng cảm ơn về mấy thứ tối qua. Nó nói vài bữa sẽ nhận vé số bán. Siêng rủ tối có rảnh, em đến trường làm lửa trại ngày 15 tháng 5…

-         Hay quá, chị có đi không?

Chị Thảo lắc đầu. Tối chị phải ở nhà chuẩn bị luận văn tốt nghiệp. Mọi việc phải hoàn tất sớm. Một thời gian ngắn nữa, hai chị em phải về thành phố.

-         Em nhắn Siêng rảnh ghé qua,chị chỉ cho mấy bài toán lớp 9…

-         Lớp 9, ủa, nó đang học lớp 8 mà.

-         Đúng, em ạ. Siêng đă tự học một phần ba chương tŕnh lớp 9 rồi.

 Nghĩ lại, có đủ thứ trên tay chưa đủ để học giỏi. Thằng bé quê nghèo như Siêng hơn gấp mười lần mấy đứa hang xóm nhà giàu của Nam, suốt ngày cắm đầu vào phim chưởng Hồng Kông với phim ma, trốn học liên miên.

Nam rảo bước về phía đống lửa to đốt giữa sân. Mùi lá tươi bị đốt trong lửa thơm ngai ngái. Chẳng thấy thằng Siêng đâu cả. Hôm nay lửa trại dành cho lứa học tṛ nhỏ ở trường bổ túc. Số người dự không nhiều lắm. Giữa ṿng, thầy giáo đang làm một tṛ ảo thuật ǵ đấy bằng mấy lá bài. Từng tràng cười ồ lên sau mỗi tṛ biến hóa. Sau đó là tiết mục múa “Trái đất”, một chuỗi người hóa trang dân tộc các nước nắm tay nhau nhảy quanh đống lửa, trông như một đoạn trong phim về người da đỏ. Một anh chàng quấn khăn cà-ma trên đầu, dùng than vẽ râu giả người Ấn. Anh chàng khác có vẻ trắng trẻo nhất trong lớp đóng vai người Châu Âu với chiếc áo khoác cũ, cái cà vạt nhàu nát. Anh chàng vai người da đen bôi đầy nhọ nồi lên mặt, nhe hàm răng trắng ở. Cô bé da đỏ đầu gắn lông vịt, mặt vẽ lằn ngang lằn dọc…

Trái đất này là của chúng ḿnh…

Vàng, trắng, đen tuy khác màu da…

Trống đội được mang ra vỗ “pan pan” nghe lạ tai. Những cậu bé chân đất c̣n lấm lem bùn của mấy khoảng ruộng vừa lội qua, say sưa múa như quên hết ưu phiền của cuộc đời vất vả với thùng cà rem, xấp vé số hay bầy trâu. Các bạn đóng vai người châu Phi, châu Mỹ nhưng mấy ai thấy được h́nh ảnh của họ dù trên tivi hay sách báo. Nông thôn, vùng đất mộc mạc buộc chặt gói trọn cuộc đời những chú bé khoai củ này. Lớn lên học, chúng sẽ trở thành những nông dân yên phận với cày cuốc, giải trí bằng rượu đế, câu vọng cổ buồn đứt ruột. Chỉ có học hành mới giúp họ thoát khỏi cảnh này nhưng mấy ai hiểu điều đó và theo đuổi một cách quyết liệt. Nam vẫn nhớ một đêm rỗi rảnh, Siêng kéo nó ngồi trước cái lều cỏ. Trăng lên, Siêng trải nóp cùng Nam ngả lưng ngắm trăng. Giữa tiếng gió thổi ŕ rào qua rặng cây ô môi, thằng Siêng mải miết nói về ước mơ của nó. Nó mơ trở thành một chuyên viên về nông nghiệp như chú Thành, anh Tấn ở trạm thực vật huyện. Nó sẽ hướng dẫn bà con trồng loại lúa nào chống được bọn rầy nâu, loại lúa nào trồng ngắn ngày. Nó sẽ giới thiệu với mọi người về các loại máy gặt, đập, gieo hạt, tuốt lúa, đánh bóng gạo…Không ai sẽ phải vất vả khom lưng ngoài đồng dưới trời nắng, chân ngâm dưới bùn mà sẽ ngồi trong buồng kín của chiếc xe chuyên dùng trên đồng ruộng. Có lúc nó lại nói về ước mơ trở thành người hướng dẫn du lịch ngay vùng núi Sam này. Làm nghề đó, nó được tha hồ kể cho du khách nghe bao chuyện cổ tích, truyền thuyết ḱ lạ về vùng đất này, về những sự tích con người chống chọi với thiên nhiên. Về ḍng kinh Vĩnh Tế tốn bao xương máu mới đào nên. Về cuộc sống miền biên giới cam go. Những lúc đó, Siêng như quên rằng ngày mai nó tiếp tục đưa trâu ra đồng, ăn cơm nguội, đi chân đất đến trường… Vẻ say sưa của nó khiến Nam thấy ḿnh tầm thường v́ chưa bao giờ nghĩ tới tương lai, mong muốn làm chuyện ǵ cho người khác. Có lẽ Siêng làm được nhiều việc nếu có điều kiện như ḿnh. Nam nghĩ vậy…

- Xin mời! xin mời

Nam giật ḿnh. Thằng bé Phi châu đen thui đang nhảy múa tự dưng đến trước mặt Nam kéo nó vào ṿng. Lúc này có nhiều người nhập chung với đoàn “thiếu nhi quốc tế” rồi Nam tưởng tượng cái áo thun trắng của nó bị anh chàng da đen nắm đă lấm len. Kệ!. đến đây th́ phảỉ nhập cuộc hết ḿnh.

-         Nam đến hồi nào?  -  Người da đen hỏi từ phía sau.

Ra là Siêng, mà nó nhận không ra. Nam ch́a tay ra sau, Siêng vỗ vỗ vào tay Nam. Hai đứa ḥa vào ṿng người đang nhảy cà tưng quanh lửa bập bùng.

Đường ra bến đ̣ ngang gồ ghề sống trâu. Đă chin giờ tối. Hai đứa dắt tay nhau lững thững đi. Gió từ ngoài kinh mang một làn hương thơm của hoa lài nhà ai. Bàn tay của Siêng nhiều nốt chai, nhưng mấy ngón tay sao thon dài. Những ngón tay của người tài hoa, chữ nghĩa. Rồi cuộc đời thằng Siêng một ngày nào đó sẽ vươn lên được, những ngón tay này nói lên như vậy.

-         Nam biết không. Siêng kiếm được việc làm rồi.  -  Siêng thủ thỉ.

-         Việc ǵ?

-         Bán vé số ngoài chợ Châu Đốc.

-         Có cực lắm không?

-         Không đâu. Buổi sáng lănh một xấp bán tới chiều, dư trả lại. Cũng may người ta cho trả vốn sau khi bán, không phải cược tiền trước.

Thằng Siêng nói toàn những điều thuận lợi. Nhưng Nam h́nh dung được nỗi cực khổ của những đứa bé bán vé số lang thang ngoài phố. Hôm nào mưa, rất khó bán. Muốn bán được một tấm, có khi thằng Siêng sẽ phải năn nỉ, mời mọc cả chục người. Nam từng thấy nhiều đứa nài nỉ khách mua như người ăn xin. Tính thằng Siêng không làm được như vậy, có lẽ nó không kiếm được bao lăm. Nhất là lúc này ở đâu cũng thấy người bán vé số.

Gần tới bến đ̣, có hai cái bóng nhỏ đi ra. Đứa lớn trạc mười lăm tuổi, tay cầm điếu thuốc đỏ lập ḷe. Đứa nhỏ cầm một nhánh tre…

-         Ê, Siêng. Đi học về hả mậy?

Thằng Siêng lặng lẽ kéo tay Nam bước tới. Đứa kia không buông:

-         Bán vé số cũng bày đặt học với hành. Muốn làm kỹ sư bác sĩ hả?

Sau câu nói, nó vứt mạnh điếu thuốc cụt lủn xuống cái mương chạy dọc theo con đường đất đánh sèo. Thằng Siêng đứng lại:

-         Thôi, mày về đi.

-         Không về, thích chọc mày chơi. Hà hà, con nhà cù bơ cù bất trôi sông lạc chợ cũng bày đặt đi học. Nghỉ đi mày…

Tay thằng Siêng chợt nắm chặt tay Nam. So vóc dáng thằng kia mập mạp hơn. Nhưng bắp thịt của Siêng rắn rỏi cứng chắc. Biết Siêng nhịn cho yên chuyện, Nam tỉnh bơ rảo bước. Thằng kia lẽo đẽo đi theo, nó giật cây gậy tre của đứa nhỏ quất vun vút không khí. Rồi như không chịu được sự phớt tỉnh của hai đứa, nó đi ṿng qua phía Nam, dí cây tre vào cổ Nam đau nhói.

-         Ê, thằng nhỏ Sè G̣ong này. Ai cho mày về đây, hả !?

 Nam dùng tay gạt thanh tre ra. Thằng Siêng nhanh hơn, nhoài người đẩy mạnh vai thằng kia. “Bơm!”.  Nó chới với mất thăng bằng rơi tơm xuống mương nước. Siêng kéo tay Nam rảo bước đi, vừa kịp con đ̣ chót đầy khách, chuẩn bị rời bến. Ngồi dưới ghe, Nam c̣n nghe tiếng chửi rủa của thằng kia.

-         Nam biết hôn, thằng đó cũng bán vé số ngoài chợ Châu Đốc. Tính nó dữ lắm, ai không mua, nó chửi. Có lúc nó “chôm” đồ của người ta. Hồi Siêng bắt đầu bán, nó gây sự với Siêng hoài v́ không hiểu sao, người ta hay mua vé số của Siêng hơn. Nhiều lần nhịn nhục rồi, hôm nay chịu không nổi nữa…

-         Nhà nó ở đâu? 

-         Nghe đâu bỏ nhà đi bụi đời. Có lần má nó t́m, năn nỉ nó về đi học. Về được mấy bữa, nó lại bỏ đi

-         Cẩn thận Siêng nhé!  Nam nhớ tới vẻ mặt dữ tợn của thằng kia.

 

 

 

Bảy.

 

 

 

Căn nhà của ông ngoại tấp nập người ra kẻ vào. Lúa đang chin đầy đồng. Ông huy động mấy cậu, mấy d́ và người nhà ra đồng gặt đập… đem lúc về nhà cất vào kho. Một số khác bán cho nhà nước. Trừ được nạn rầy nâu, lúa tổn thất ít, ông ngoại rất vui. Suốt ngày ông ở ngoài đồng trông coi việc thu hoạch. Đến tối ông ngồi tính toán không biết mệt, không ngại tuổi già. Nh́n múi ngực của ông c̣n nổi ṿng lên, Nam nghĩ ông c̣n sống nhiều năm nữa. Vừa ham lao động ông lại sống rât điều độ. Chẳng bao giờ Nam thấy ông hút điếu thuốc nào. Rượu, nếu vui ông nhấp một ly, không khi nào quá. Tối rảnh, ông đọc truyện Tàu, hứng lên lại ngâm thơ chữ Hán toàn những câu chữ nghe lạ hoắc.

Mấy hôm nay ông nhờ chị Thảo tính toán để ông lập kế hoạch nuôi cá bè. Ông nói, đây là nghề truyền thống của dân Châu Đốc. Lúc đầu, ông lập một bè cá, sau sẽ mở rộng thêm. Lúc đó rất cần nhân công. Có khi phải gọi mấy cậu ở thị xă về phụ. Ông bảo: “Nghề ông bà ḿnh để lại, dễ làm, sao lại bỏ qua. Các cậu về đây giúp ông, sau này sẽ biết nghề. Nếu ai cũng nuôi cá bè, hàng tháng xứ Châu Đốc sản xuất nhiều cá, chở đi bán khắp nơi, làm khô hay xuất khẩu nữa”.

Nhà trước đông người, Nam lỉnh xuống nhà sau. Ngoài hè mát rượi gió đồng. Xa xa, hang me keo với những trái chin đỏ như đang trong điệu múa. Chị Thảo vừa mới gội đầu, mái tóc xơa xài hong trước gió thơm mùi sả. Nam ngồi xuống đi văng sau lưng chị hít mạnh mùi hương ấy. Cơn gió đồng, mùi tóc, tiếng vơng đưa… Những h́nh ảnh, âm thanh. Mùi vị ấy Nam ngỡ như đă bắt gặp nơi đâu, trong bài hát, câu thơ rất gần gũi. Tuần sau nữa thôi, hai chị em sẽ về thành phố. Có lẽ v́ vậy, mọi hương vị đồng quê sắp xa trở nên đậm đà hơn. Nhất là trong buổi trưa này…

Nắng hạ đi.

Mây trôi lang thang cho hạ buồn.

Coi khói đốt đồng để ngậm ngùi.

Trong bài ca thân thương ấy, có hai chị em tóc bạc ngồi nhổ tóc sâu cho nhau trong một buổi trưa có lẽ giống buổi trưa này.Người em trai dâng lên trong ḷng một t́nh cảm quê hương đằm thắm. T́nh cảm ấy đang lên trong ḷng Nam. Nó chợt yêu da diết mọi thứ ở đây, từ màu tím man mác của bông lục b́nh trôi trên ḍng kinh đến màu mạ xanh non của lúa, từ câu vọng cổ buồn nẫu ruột đêm mưa ông ngoại khảy đàn cho đến câu ca dao trong  máy ghi âm của chị Thảo… Và có phải Siêng, chính nó mang đến cho nó t́nh cảm ấy. Bởi v́… cảnh đẹp khiến ta thích, tâm hồn đẹp mới khiến ta cảm thấy gần gũi… Cuộc đời Siêng, Nam mong muốn sẽ tốt đẹp chứ không khúc khuỷu, cam go như câu ca dao chị Thảo chép “Ống quyển dài khen ai khéo thổi -  Thổi giọng trầm nhiều nỗi khúc mắc  -  Miễu thần linh có cây mộc trắc -  Hai đứa vô thề cũng mắc một đứa…”.  Bài thơ âm điệu thật khó chịu này là những câu chị Thảo thích nhất, cứ đọc đi đọc lại. Qua lời thằng Siêng đọc, như vọng lên nỗi than thân trách phận dù không bao giờ nó bộc lộ ra điều ấy. Nam c̣n nhận ra một điều: những câu ca dao, vọng cổ giống như ánh trăng ở thành phố được nghe, được nh́n dễ chán. Về nông thôn, ánh trăng huyền ảo hơn lại gần gũi hơn. Câu ca dao, câu vọng cổ thấm thía hơn, ngọt ngào hơn. Và Nam mới hiểu được phần nào hai tiếng : quê hương…

Hôm nay là ngày thứ bảy, chỉ c̣n ngủ hai đêm nữa ở Châu Đốc, qua sáng thứ hai Nam sẽ cùng chị Thảo về thành phố. Bây giờ tâm trạng Nam lại rối bời. Chị Thảo lo lắng không kém. Chiều qua, hai chị em xuống đ̣ qua kinh, rồi thả bộ ra chợ Châu Đốc kiếm ṣ huyết ăn. Ṣ huyết ở đây thịt đầy vun, rất ngọt. Bà bán hang vừa mới bưng ra, đă có một thằng bé bán vé số sa vào mời chị Thảo mua. Bà xua tay đuổi nó rối rít. Chị Thảo móc tờ giấy năm trăm mua giúp nó một vé. Thằng bé lễ phép cảm ơn chạy đi. Bà kia phân trần:

-         Mệt với tụi nó lắm cô ơi. Thấy khách cứ sà vào, đứng chầu chực miết đến khi khách mua th́ thôi. Nhiều ông khách uống bia la om ṣm, chúng mới chịu đi.

-         Cũng tội cho tụi nó, thím…

-         Đành rằng nghèo mới bươn chải, nhưng nhiều thằng ma lanh, hỗn hào lắm chịu không nổi. Có mấy đứa hiền lại bị đứa dữ ăn hiếp, rồi đánh lộn đổ máu đổ mủ. Hôm rồi có thằng bị đánh phải nằm nhà thương. Tội nghiệp cái thằng hiền khô…

Nam chợt rùng ḿnh.

-         Em đó tên ǵ. Thím?

-         Nào có biết đâu. Nghe nói con cô giáo Thủy, Thủy chi đó…

Con ṣ huyết trên tay chị Thảo đặt “cạch” xuống bàn: “Siêng! …” Chị Thảo buột miệng: “Thím, nó có sao không?”

-         Ủa, cô biết nó à?. Không biết có nặng không, nhưng đầu chảy máu dữ. H́nh như bị đánh bằng cây chân ghế… Thằng nọ cũng là dân bán vé số, lớn hơn nó… Nghe ông xe lôi bảo đưa vô nhà thương thị xă. Cô cần cứ đến đó hỏi.

Trả vội tiền mớ ṣ chưa ăn xong, chị Thảo đứng ngay dậy: “Bác xe lôi!” Ông xe lôi vội cắm cổ đạp. Nam c̣n nghe tiếng bà hàng ơi ới gọi trả lại tiền thối.

Thằng Siêng đang thiêm thiếp trên giường. Đầu nó băng kín như đội chiếc mũ của người dân tộc Chăm. Chung quanh nó, giường nào cũng có người bệnh với mớ bông băng. Mỗi giường đều có thân nhân đến thăm, có trái cam, hộp sữa trên bàn. Trừ giường của Siêng. Chị Thảo nhẹ nhàng ngồi xuống mép giường, chậm răi lấy khăn chấm mồ hôi trên mép, trên cổ Siêng.

Một bác sĩ ra dấu gọi chị Thảo:

-         Cô là người thân của em bé?

-         Dạ…Dạ phải. Chị Thảo ngập ngừng.

-         Chúng tôi nhận em đă hai ngày… Không thấy thân nhân đến… Cô đừng lo, em đă đỡ rồi. Rất may không bị chấn thương sọ năo.

-         Dạ, mọi sự nhờ bệnh viện và bác sĩ giúp. Em này mồ côi, không thân thích. Tụi em chỉ là hàng xóm…

-         Vậy à. Nhưng không sao, cô yên tâm. Tôi có biết em bé này. Nó là học tṛ cưng của anh bạn tôi dạy bên trường bổ túc. À, em ấy thức dậy…

Thằng Siêng mở to mắt: “Chị Thảo… Nam”. Hai giọt nước mắt lặng lẽ chạy dọc xuống đôi má sạm đen. Chị Thảo vuốt nhè nhẹ mái tóc cắt ngắn của nó. Thằng Siêng lại nhắm mắt. Vai nó rung nhẹ…

Một tuần lễ trôi qua. Một tuần lễ với những ngày tất bật ở bệnh viện. Hầu như ngày nào Nam với chị Thảo cũng có mặt ở đó. Sức khỏe Siêng hồi phục mau. Da mặt nó đă hồng hào… Vết thương trên đầu đỡ nhức nhiều…

Qua lời Siêng, đứa dùng cây đánh Siêng không ai khác, chính là thằng bé ngang ngược từng chận đường hai đứa đêm lửa trại. Chứng kiến Siêng bán được mười tấm vé số, nó tức tối gây sự. Siêng nhịn đến lúc nó xé xấp vé số trên tay Siêng. Quần thảo một hồi, nó vớ đâu chiếc gậy, đập Siêng. Thấy máu chảy nó bỏ trốn. Măi đến giờ, công an chưa t́m được nó.

Ông ngoại cho tiền hai chị em mua cam, sữa cho Siêng ăn lấy sức. Chị Thảo xách cát-sét vào bệnh viện, gắn băng nhạc cổ điển cho nó nghe. Hai chị em muốn săn sóc nó trước khi về thành phố. Má lại viết thư về, giục chị Thảo về sớm để hoàn chỉnh bản luận văn trong ṿng hai tuần nữa. Vả lại, ở nhà đang vắng do ba đi công tác.

Trưa nay bệnh viện thị xă yên tĩnh lạ lùng. Gió lặng đứng, chỉ nghe tiếng quạt máy vù vù. Ngoài sân, một cụ già lom khom nhặt hoa sứ bỏ vào chiếc bao nylong.

Đă quá giờ cơm trưa , c̣n lác đác vài người ăn cơm trễ bên chiếc bàn đá trong hành lang. Nam nối bước chị Thảo vào pḥng bệnh nhân. Giường Siêng trống trải, chăn nệm gấp cẩn thận. Những thứ lỉnh kỉnh như bịch cam, hộp sữa được dọn sạch.

-         Có lẽ Siêng đă xuất viện.

-         Chưa đâu, cái túi đệm c̣n kia. – Chị Thảo tinh mắt phát hiện.

-         Chị Thảo, Nam mới đến ? -  Siêng bước ra từ đầu hành lang.

Ba chị em ngồi xuống ghế đá. Trông Siêng rất tươi tỉnh. Nó đă khỏe hẳn, ngày mai được xuất viện. Nhưng Siêng muốn rời khỏi bệnh viện ngay bữa nay. Ở đây buồn quá. Một tuần nghỉ học , mất nhiều bài vở, nhớ mấy đứa bạn cùng lớp.

-         Có lẽ em xin vé số đi bán như hồi trước. Mấy đứa bán chung thương em, nó sẽ xin đại lư giúp. Ban ngày, bữa nào bán hết sớm em sẽ ghé nhà ông Tám chơi với chị và Nam. Hoặc lúc nào đó, chị với Nam ra cḥi em làm lại món cá lóc nướng trui…

Mắt Siêng long lanh khi nói đến chuyện đó. Buổi chiều trời mưa ấy chắc sẽ là một kỉ niệm đẹp nhất của nó. Chị Thảo cầm tay nó: “Siêng, một lúc khác, vài tháng nữa ba chị em ḿnh gặp nhau… ngày mai, chị với Nam về Sài G̣n. Bữa nay đến từ biệt em…”

Mắt Siêng mở to, rồi hàng mi cụp xuống. Nó buột miệng: “Vậy hả chị ?”.

-         Siêng, chị cảm ơn em đă giúp chị nhiều việc. Mấy tháng ở đây, hai chị em chị rất mến em. V́ sao… Chắc em biết. Chị khuyên em một điều.. Cố gắng theo đuổi chuyện học nghen!

-         Dạ… cảm ơn chị.

-         Có chi khó khăn, em đến gặp ông ngọai chị, ông sẽ giúp…

Chị Thảo loay hoay lục chiếc giỏ. Rất nhanh, chị lôi ra một gói nhỏ.

-         Có cái này tặng em, làm kỷ niệm. Hứa với chị ngày mai mới mở ra…

Nam nh́n gói quà, tự trách ḿnh không chuẩn bị riêng chút ǵ tặng Siêng.

-         Dạ, thôi… dạ.. chị Thảo, Nam đừng làm vậy.

-         Em hứa với chị nghe Siêng,  -  Chị Thảo nắm chặt tay nó. Nam bắt chước, nắm lấy bàn tay Siêng.

 

 

 

                                                                  Kết.

 

 

Cơn mưa đầu hạ rũ bao lá me xuống đất và cuốn tất cả những chiếc lá li ti vào cống rănh. Có lẽ những người quét đường thích quét những con đường trồng me vốn sạch sẽ. Nam lại thích những con đường trồng cây bă đậu chín. Rơi xuống đất, chúng văng từng múi trái cứng như gỗ. Tách một mảnh, Nam khắc h́nh con cá đang vẫy đuôi để đeo trước ngực hay tặng mấy đứa con gái.

Trở lại thành phố vào mùa hè, Nam sững sờ trước mọi sự thay đổi nhanh chóng. Dăy nhà tầng cách nay ba tháng là cái sườn bê tông xấu xí, giờ choáng lộn với của kính đá mài.Cây lan đất nhà Nam trổ nhiều hoa hơn. Con chó Tô nhà Nam lớn hơn, giờ lại sủa tiếng khàn khàn như vỡ tiếng. Và mấy con bé gần nhà… xí xọn hơn. Mới phát hiện ra Nam, cô bé Ti uốn éo miệng: “Mới ở quê lên đó hả, quà của ḿnh đâu?”. Hỏi thăm như vậy c̣n nghe được. Ai như con nhỏ Hoàng: “Mới đi tỉnh về , trông Nam… khờ ra, đen thùi lùi, mặt ngố”. Nam không them căi, bước vào nhà lấy gói khô ḅ Châu Đốc đưa cho hai đứa. Hoàng chê Nam chứ không chê khô ḅ, nhai sậm sực ngon lành.

Nam soi ḿnh trước gương. Một thằng bé đen hơn, rắn rỏi hơn và có vẻ cao hơn đối diện Nam. Nó không giống thằng Nam mới ốm dậy cách nay ba tháng. Nam thích nh́n ḿnh như t́m lại dấu vết những ngày lang thang trên đồng, trôi nổi trên ḍng kinh Vĩnh Tế. Tụi bạn Nam làm sao biết được hương vị cá nướng trui thơm lừng, món thịt chuột đồng xúc bánh tráng, vị ngọt của con tôm luộc vừa câu dưới kinh mang lên… và Nam biết chắc rằng, tụi bạn Nam sẽ không tin có một đứa bé chăn trâu như Siêng, chịu đủ khốn khó nhưng quyết không bỏ học, lại học giỏi…

Về Sài G̣n, chị Thảo lao vào việc viết lách. Mỗi ngày chị đóng chặt cửa pḥng, giờ ăn mới ra ngoài. Trông chị bận rộn mệt mỏi. Đôi lúc vài ba người bạn đến nhà, toàn bàn chuyện bài vở.

… Phần Nam , bắt đầu đụng đến sách vở. Một năm mới sắp đến, không lo học bây giờ th́ c̣n lúc nào nữa.

Tối nay, chị Thảo ngoắc Nam vào pḥng:

-         Tuần sau, má về ngoại, sẵn đi hành hương núi Sam. Em có định gửi thư cho Siêng không?

-         À, hay quá! -  Nam nảy ra một ư: Em sẽ gửi cho nó sách vở và một chiếc áo trắng.

-         Nó cần mấy thứ đó thật. Chị định cho nó ít tiền, nhưng biết chắc nó không nhận.

-         Sao chị biết?

-         À… chị quên. D́ Mười mới lên sáng nay, giờ đang ở nhà d́ Hai. Em biết không, lần trước gói quà chị mua cho Nam một chiếc quần tây và tặng chút tiền. Nó gửi lại tiền, chỉ xin nhận cái quần. À, có bức thư của ông ngoại, d́ Mười để lại đây. Chị vẫn chưa đọc…

    “ Siêng có đến thăm ông. Nó có kể chuyện cháu tặng  chiếc quần và tiền.Nó xin gửi lại số tiền, ông gởi d́ Mười cầm lên. Ông ép nhận, nó nhât định từ chối. Tội nghiệp, tính nó y hệt cha nó…”

   “ Việc nuôi cá bè đang tiến hành rất tốt. Việc đồng ruộng lại tất bật chuẩn bị cho vụ mới. Thấy Siêng hiền, ngoan lại chịu khó ông định bảo nó về ở với ông. Ông muốn nuôi cho nó ăn học tới nơi tới chốn. Bên cạnh đó, sẽ hướng dẫn nó nghề nuôi cá bè… Trước mắt, sẽ xin cho nó học lớp ban ngày. Cháu thấy có được hôn?”

-         Úi trời, c̣n ǵ bằng! -  Chị Thảo sung sướng thốt lên.

Nam nhảy cẫng vỗ tay bôm bốp: “Được quá! Được quá! Viết thư ngay cho ông ngoại, chị Thảo!”

-         Ừa, viết liền, chị viết ngay đây. Viết cả thư cho Siêng nữa.

Chị Thảo đặt xấp giấy viết thư trên bàn, nắn nót ghi: “Ông ngoại kính…”. Nam cúi sát nh́n nuốt từng chữ.

 Những ḍng chữ như biết nhảy múa v́ niềm vui chất ngất trong ḷng. Siêng ơi, vậy là anh em ta cùng một nhà.

Hẹn hè năm sau, một năm nữa thôi, ta gặp lại nhé!

Những h́nh ảnh cũ bỗng vụt trở về trong mắt Nam. Đẹp nhất h́nh ảnh cậu bé chăn trâu một chiều mưa miền biên giới, tay cầm giỏ cá, miệng đọc bài ca dao mộc mạc: “Sớm mơi con mắt lim dim…” Siêng ơi…Kinh Vĩnh Tế ơi.. Hẹn gặp lại nhé.

                                             PHẠM CÔNG LUẬN

                                                                              Sài G̣n

                                                                     Tháng 6- 1991