Quà vặt
“Hồi
nhỏ ăn cái gì cũng ngon”. Câu nói thường nghe của nhiều người dù
trong số họ, cao lương mỹ vị năm châu bốn bể họ ăn được nhiều. Câu
nói đó là chân thành, không phải làm dáng. Nhưng khi những món ăn
hồi nhỏ bày ra trước mắt, chắc hầu hết sẽ nếm thử rồi lắc đầu. Điều
đó cũng giống như khi gặp lại một người hồi nào đã từng yêu tha
thiết, ai cũng bảo “Biết vậy không gặp thì hay hơn !”
Như
vậy, những món ăn yêu thích hồi còn nhỏ ta luôn luôn ăn không chỉ
bằng lưỡi, bằng miệng mà bằng cả tâm hồn, cảm xúc và tất nhiên bằng
cả nhu cầu cơ thể của tuổi nhỏ đang lớn. Cái bánh nào ngon bằng bánh
mẹ cho ta khi mới đi chợ về, còn gói trong lớp giấy điều mỏng mảnh
thấm loang vết dầu từ vỏ bánh. Chén cơm nào ngon bằng chén cơm ấm
nóng trong một chiều mưa, sau một trận đá banh ngoài bãi cỏ gần nhà.
Lúc ấy cơm ăn với cá, thịt, trứng chiên hay ba khía đều ngon. Ôi,
những cảm giác ẩm thực tuyệt vời nay không còn nữa. Bây giờ, những
câu hỏi lẩn quẩn trong đầu khi ngồi trước món ăn : Nó có quá béo
không? Mặn quá không? Có nhiều đường quá không? Liệu có làm nặng dạ
dày không?...Rồi sau khi tự trả lời xong các câu hỏi, ta bắt đầu ăn
bằng thái độ chắt lưỡi làm liều hay tự tin vì đã tự thẩm định hàm
lượng của chúng. Mệt quá!
Nhớ
hồi nhỏ, trong xóm tôi có một gia đình gồm ông bà cụ già người Bắc.
Hai ông bà đều mập mạp, sống kín đáo và khó tính với mọi người. Phục
vụ ông bà là một chị lớn tuổi không chồng, có lẽ là cháu trong họ
tên là Vinh. Cô Vinh tính vui vẻ, hay cười hay nói. Dù rất ngán
ông bà cụ, chúng tôi thích chơi với cô Vinh và thường dòm ngó cây
khế chua nhà ấy. Thật ra, khế chua thì khó ăn, có nhặt được mang về
thì chỉ có mấy bà chị khoái thôi chứ đám con trai chẳng mê. Nhưng Ô
mai Khế ( lũ con nít Sài Gòn biết cáí từ Ô mai là qua chị Vinh) thì
ngon tuyệt. Món này chị làm khá đơn giản, không tốn kém. Khế chua
xắt ngang ra từng lát mỏng hình sao, chị sắp đầy mặt một cái mâm
nhôm xong rắc muối bột lên rồi đem phơi trên mái bếp. Trời nắng Sài
gòn tốt tươi, qua vài nắng những lát khế sẩm màu lại thành màu nâu,
sau đó là khô cong. Đến lúc giở mâm, chị ra đứng trước nhà, ngó hai
đầu xóm xem có đứa nào đứng gần đó bèn ngoắc lại. Chúng tôi chạy ù
đến xem chị bóc ra từng mảng khế dính nhau, chia mỗi đứa một bụm
tay xong còn bao nhiêu chị cất vào keo. Bọn tôi bụm tay ù về nhà,
chưa kịp ăn mà nước bọt đã ứa chân răng. Ô mai khế thơm mùi nắng,
khô cong và chua chua, mặn mòi nhưng nhai sừn sựt trong miệng lại
cảm giác có vị ngọt. Đến giờ, cảm giác ngon ấy còn đọng chưa tan và
sau này, tôi chưa thấy lại món ô mai khế đơn giản ấy bao giờ nữa.
Những năm tuổi 16, 17, cả nước khó khăn, bọn con trai tuổi ăn tuổi
lớn như tôi lại ham đá banh nên lúc nào cũng thèm ăn. Khác với trẻ
miền quê, ở Sài gòn ba mẹ hay phát tiền ăn. Thế là trưa nào tôi cũng
rinh về một nải chuối bom. Thứ chuối này lạ, hồi nhỏ tôi không hề
thấy mà chỉ biết có chuối già màu xanh ăn rất thơm, chuối sứ ngọt
lịm nấu chè hay làm chuối nướng thì ngon, hoặc chuối cau vàng màu
hoa cúc, ngọt, nhỏ trái và có mùi thơm đặc trưng. Chuối bom nghe đâu
trồng nhiều ở miệt Long Khánh, trong các hố bom nên tên gọi như vậy,
ăn ngọt nhưng không thơm, rẻ rề. Bây giờ chúng lại biến mất và những
thứ chuối tôi thấy hồi nhỏ thì xuất hiện lại, đâu cũng có. Mỗi ngày
tôi quất một nải chuối, chơi đá banh chán chê rồi ăn thêm kẹo đậu
phộng, bánh tráng nướng, những món của con nhà nghèo, xong quất cả
năm chén cơm với mắm ruốc xào thịt mà thấy “sướng vì ăn”. Ăn vậy mà
vẫn còm nhom nhưng cao nhòng.
Lâu
quá ít thấy những củ Ấu đen. Những củ ấu mang dáng dấp bộ râu mép
đen của một ông Tây sành điệu trong một cuốn phim nào đó. Vợ tôi
người miền Trung, không quen ăn thứ nhân màu trắng của nó nên không
mua về. Khi tôi đưa lên miệng cắn, mùì củ ấu của tuổi nhỏ hiện về,
cái mùi ngai ngái của loại củ sinh ra dưới bùn, dưới nước, nhân bùi
nhưng mát, không quá cứng và ngọt. Ăn củ ấu lại nhớ củ Năn, cũng
có vỏ đen, ruột trắng. Củ năn gọt ra bày trên dĩa, ăn giòn, ngọt và
có mùi thơm riêng, hơi giống củ sắn (củ đậu) nhưng cứng hơn, vị sắc
hơn. Ăn củ ấu cũng nhớ đến những hột mít, hột sầu riêng. Những cáí
hột mà từ khi còn nhỏ, con nít nhà nghèo luôn chú ý đế dành đưa cho
chị, cho mẹ để luộc thành món ăn chơi rất thích. Thật thân thương
khi nhớ lại đứa em gái nhỏ tròn quay của tôi. Mỗi buổi chiều ăn cơm
xong mẹ cho một chén hột mít đã luộc, để nguội. Nó mang ra một góc
tường khuất, say sưa bóc từng hột, say mê ăn đến hết sạch chén. Còn
tôi mê ăn hột sầu riêng luộc vì thơm hơn, bùi và ít bột nên ít khô
hơn.
Bây
giờ, cả nhà tôi không ai thèm ăn hột mít, hột sầu riêng. Ăn xong
trái, hột gom lại đem đổ. Lúc nào nhìn chúng bị bỏ vào thùng rác,
tôi cũng cảm thấy tiếc dù biết có giữ lại để luộc mình ăn cũng chẳng
được bao nhiêu. Cái khẩu vị sao có trí nhớ dai thật !
Thỉnh thoảng có những món ăn tuổi nhỏ của mình lại thấy có và rất
phổ biến ở một vùng đất nào đó. Ở Quảng Châu, tôi thấy lại những cái
kẹo hồ lô gồm trái cây bọc đường ghim vào một que tre mà tôi từng mê
tít từ chiếc xe đạp của một ông già Tàu thường vào xóm. Ở Thượng Hải
là khoai lang nướng thơm lừng. Ở Osaka là món kẹo bông gòn đựng
trong những cái bao to đùng, và có cả xi rô đá nhận trong một hội
chợ đông vui nữa.
Khi
cảm thấy mệt với cuộc sống bon chen này, tôi lại tà tà đến trước
cổng trường tiểu học gần nhà và …đứng ngó. Ở đó luôn có một ông bảo
vệ, già hay trẻ mà suốt dọc đường tuổi nhỏ mình hay gặp và sợ, một
cái trống to đùng để báo giờ ra chơi vào lớp và chắc chắn có một đội
ngũ bán hàng rong trước cổng trường. Lại là những trái cóc gọt vỏ
ngâm nước tỉa hình cái bông, miếng xoài tượng xanh quệt miếng mắm
ruốc, cái bao kẹo bông gòn, miếng me tẩm đường, khoai mì luộc có dừa
nạo và muối đậu… Nếu có con, mình sẽ không cho chúng mua ăn vì sợ
không được sạch. Và khi mình ra về, chúng sẽ chen nhau, thò tiền qua
cái cổng sắt để mua quà và nhâm nhi để cảm thấy sung sướng, y như
mình hồi nhỏ.
Vì dù
sao đó cũng là một phần làm nên tuổi thơ của chúng ta, những món quà
vặt…
Phạm Công Luận