 
Nhân gian trong một chén trà

Hồi những năm mới
giải phóng, đoạn đường Hai Bà Trưng gần Nhà hát
Thành phố có một ông cụ bày một bàn gỗ dựa vách
tường. Trên bàn ông để lỉnh kỉnh mấy món: dăm cái tô
chiết yêu, nải chuối sứ, mấy cái hủ đựng kẹo đậu
phộng, đường tán. Cái bàn bằng gỗ mốc cời, một cái
ghế dài đặt dọc cạnh bàn.
Có lần, tôi theo cha
ra chợ Bến Thành chơi lúc ông còn đứng sạp bán hàng
nữ trang xi mạ ngoài đó. Trên đường về, ba tôi tấp
chiếc xe Sachs vào đúng ngay cái bàn của ông cụ.
Trong khoảng râm mát của lề đường tháng Chạp rụng
đầy một loại hoa vàng không rõ tên, tôi khoan khoái
duỗi chân ngồi trên băng ghế, tò mò nhìn những thứ
bánh kẹo đơn sơ trên bàn, y hệt những thứ bày bán ở
quầy bánh bà Tư trong xóm nghèo của tôi miệt Phú
Nhuận. Ông chủ quán chậm chạp bày hai cái tô ra, đổ
nước lạnh vào một phần ba tô rồi từ phía sát vách
tường, ông lôi ra một cái ấm nhôm to đùng, nâng cao
lên rồi rót thẳng vào tô. Khói nghi ngút bốc từ làn
nước mảnh như thác từ trên đổ xuống, bọt nước đùn
lên, trong khe. Rót đầy hai tô, ông ngồi phắt xuống,
cất ấm vào chỗ cũ, trở lại tư thế ngồi đàng hoàng
bên cái bàn rộng.
Do có chút nước lạnh
nên tô trà uống không nóng lắm, nhưng đó là lần đầu
tiên tôi đuợc uống một tô Trà Huế vun chùm bọt giữa
đất Sài Gòn. Vị trà có mùi lá héo, pha mùi gừng
thơm. Uống một hơi, mồ hôi tứa ra mát cả người. Ba
tôi chìa cho tôi miếng kẹo đậu phộng dòn tan. Nhai
một miếng, uống một ngụm trà, vị ngọt dường như
thanh hơn và hương trà dường như đậm đà hơn.
Và đó có thể là lần
cuối cùng có thể thấy một quán trà Huế giữa đất Sài
Gòn. Nhiều năm sau này, có dịp uống Mạt trà của Nhật
ở Kamakura hay Ô long ở khu phố Nam Kinh giữa Thượng
Hải, dù có xao xuyến trước một văn hóa thưởng trà
cầu kỳ, vẻ đẹp của ấm chén Nghi Hưng hay ấm trà
Tokoname, vẻ lộng lẫy của trà thất, nét sinh động
hay kiều diễm của người mời trà, tôi vẫn nhớ như in
buổi xế trưa tháng Chạp đó, với tô trà Huế mà mấy
chục năm nay, tôi chưa thấy lại một kiểu uống vốn
rất thịnh hành ở miền Nam.
Má tôi kể hồi xưa
khi con gái về nhà chồng thường bị để ý xem có giỏi
pha trà Huế cho ba má chồng uống không. Những năm
trước thế chiến thứ Hai, các chợ miền Đông Nam bộ
và Sài Gòn Gia Định bán nhiều thứ trà tươi loại này.
Mua từ chợ về, cô con dâu mang bỏ vào cối giã cho
nát. Xong cứ để trong cối ủ một đêm, qua ngày hôm
sau lấy ra phơi cho khô rồi dùng dần. Trà pha trong
ấm lớn, rót vào tô làm sao nổi bọt càng nhiều càng
ngon (?). Và tô để rót trà luôn có sẵn nước nguội để
bảo đảm trà không nóng phỏng môi khi uống.
Nhưng ba tôi, từng
lang bạt làm ăn khắp nơi, cho rằng trà Huế không cần
ủ trong cối đá vì như vậy nó sẽ lên men, thành một
thứ trà khác. Ông kể các quán trà Huế cũng tương tự
như quán ông cụ đuờng Hai Bà Trưng, có một bàn dài,
vài ghế dài đặt chung quanh. Do quán thường đặt nơi
thoáng rộng, góc chợ, lề đường trong xóm nên bày cả
một cái nồi to đùng như nồi nấu bánh tét, luôn có
lửa liu riu. Nguyên liệu lúc ấy sẵn lắm vì nhà quanh
vùng thường trồng hàng rào bằng cây trà. Khi cắt về,
người ta lấy cả cành, lá, chặt khúc ra xong đem phơi
nắng cho héo rồi mới giã trong cối cho nát. Xong mới
bỏ vào bao bòng bột, thêm một ít gừng đã giã sẵn,
rồi túm miệng bao cho vào nồi. Nấu sôi cho ra trà,
từ đó thì để lửa nhỏ cho nước lúc nào cũng sôi.
Trên bàn ngoài mấy
món đồ ăn lặt vặt có bày thêm một hàng tô da đá chứa
sẵn một phần nước lạnh, có thêm khay trầu cau. Có
quán để cả ông Địa, tay lúc nào cũng có điếu thuốc
đang rịn lửa. Dân phu phen, củi lục làm ăn buổi trưa
tấp vô ăn miếng trầu, miệng hô: “Cho một tô trà Huế
!”. Chủ quán thường là một bà trộng tuổi lấy gáo dừa
múc vào cái nồi, giơ cao tay rót vào tô và dứt khoát
bọt phải nổi lên. Chú thợ bưng tô đánh ực, khà một
tiếng, lấy tay áo quẹt miệng, bẻ miếng đường tán
móng trâu nhai rụm rụm rồi nhanh chóng đứng dậy kiếm
chỗ nghỉ ngơi, lưng áo đã ướt mồ hôi tươm ra từ tô
trà “quá đã !”
Ba tôi kể trà Huế
thường dành cho người nghèo. Giới trung lưu hay
người có đồng ra đồng vào vẫn thường uống trà tàu ở
tiệm nước người Tàu, mát mẻ và có thể ngồi lâu. Thời
đó không thấy ai nhắc đến và không mấy người biết
trà Ô long (Ngày nay, người Trung Quốc ra công
truyền bá trà Ô long đến mức độ gọi thế kỷ 21 là thế
kỷ Ô long, có lẽ hàm nghĩa là thế kỷ vươn lên của
người Trung Hoa). Giới học trò Việt cũng tập tành
vào tiệm nước ở Chợ Lớn uống trà Phổ Nhĩ (trà đóng
thành bánh, càng để lâu càng có giá). Và Phổ ky tiệm
nước rất sợ loại khách này vì thường ngồi lâu đến
nỗi phải đến nhắc là “Bạch thầu xà” (Trà trắng rồi
!). Người ngại ngồi quán xá hay thích uống trà ở nhà
thì mua trà Nghi Bồi Nham, trà đen ở tiệm chạp phô
về uống. Gói trà thường bằng giấy bạch, in chữ đỏ.
Ấm chén dùng loại bình thường của Lái Thiêu, người
khá giả mua ấm sứ mỏng tang của Nhật hiệu Đại Nam,
Đại Tín là sang. Thời đó, ấm Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh
Thần ít ai có. Sau 1954, người Bắc di cư vào Nam
mang theo loại ấm đất nung tử sa vào, góp phần làm
phong phú thú thưởng trà của Nam bộ.
Vì sao lại gọi là
trà Huế, một thức uống rất phổ biến của người miền
Nam? Nhiều người cho rằng cách pha trà là kiểu thức
của những lưu dân, hay nhà nho miệt ngoài, từ Hà
Tĩnh, Nghệ An trở vào, bị đày ải hay bất mãn triều
đình Huế vào sống trong Nam mang theo và truyền bá.
Và món trà Huế, sau gần thế kỷ tồn tại trên quê
hương mới, nay cũng đã hòa tan vào thú thưởng trà
của người Nam bộ, giống như những người lưu dân từ
miền ngoài đã trở nên gắn bó, thấm nhuần và hoà tan
vào tính cách người miền Nam, vốn gốc gác là dân Ngũ
Quảng một thời đi khai phá lập nên quê hương mới.
Năm 86, lần đầu ra
Hà Nội, tôi “va chạm” với trà Bắc ngay trên chuyến
tàu đêm. Một chú bé xách cái giỏ đựng lắm thứ trong
đó có một bình thủy nước sôi, miệng hô vang khắp toa
tàu “Chát chạt, xít xịt, búp bụp”. Nhiều
người gọi uống thứ nước đắng ấy và tôi đã mất ngủ cả
đêm khi bắt chước uống thứ chè Thái Nguyên chát xít
(có nghĩa là nguyên chất) và nấu bằng búp chè như
lời quảng cáo. Đến Hà Nội, tôi cảm thấy lạ lẫm và có
phần thích thú những quán trà vỉa hè ngoài đó. Với
cái ghế dài đặt áp vào chiếc bàn gỗ, với người bán
là những bà cụ răng đen áo nâu hay một ông cụ già
nua hay chuyện, nó có vẻ gần gũi, thân mật của
những năm xa xưa của Hà Nội thời Vũ Bằng hay của
những quán trà Huế Sài Gòn xưa. Bây giờ những quán
trà như vậy vẫn còn ở Hà Nội nhưng có lẽ không được
ưa chuộng nữa. Trong những cơ quan ở Hà Nội mà tôi
đến, giới công chức, viên chức công ty dùng trà
Lipton, thứ trà đen vụn rẻ tiền của Anh quốc đã
thành thức uống sành điệu chỉ vì nó ít độc hại trong
suy nghĩ. Còn giới trẻ thì ưa trà Dihma. Nghĩ mà
thương cho một quan chức ngành trà Việt đã bỏ mạng
tại Trung Đông khi đi tiếp thị trà và cũng tiếc cho
ngành chế biến trà Việt Nam chưa đủ hấp dẫn với
người thưởng ngoạn dù trà Thái Nguyên vẫn là loại
trà ngon trên thế giới.
Người uống trà Việt
có cơ hội sắm những trà cụ khá đẹp khi làn sóng bán
đồ sứ Giang Tây ào vào thị trường Việt mấy năm gần
đây. Cùng với số đồ sứ là sản phẩm chính, thấp
thoáng có những chiếc ấm đất nung Nghi Hưng rất nổi
tiếng trên thế giới bằng đất sét tử sa tỉnh Giang Tô,
Trung Quốc với màu đỏ tía, vàng sậm và nâu đen. Giá
chúng rẻ vì là hàng sản xuất hàng loạt bằng khuôn,
đất nguyên liệu loại thường, nhưng đủ đẹp và chuẩn
để pha thứ trà ngon nhất. Khi tôi thử luộc ấm theo
kinh nghiệm của Giáo sư Vũ Thế Ngọc, tác giả quyển
Trà Kinh, ấm trà loại này chịu nhiệt rất tốt suốt
mấy ngày dầm trong nước sôi. Gần đây, thị trường có
cả ấm trà tử sa xách tay về từ Đài Loan với chất đất
rất mịn màng, dáng đẹp và cũng đắt tiền hơn, thích
hợp để sưu tập hơn là sử dụng vì giá rẻ nhất cũng
bạc triệu. Về chung uống trà, người chơi sành điệu
không đầu tư vào nhiều như khi mua ấm nhưng có thể
kiếm chung đẹp cũng bằng đất nung Nghi Hưng ở các
tiệm trà, hoặc mua chung sứ Giang Tây. Người chơi đồ
cổ thì uống trà bằng chung sứ Giang Tây thời… Ung
Chính xanh trắng hay phủ da lươn, bên trong vẽ họa
tiết rất đẹp. Hoặc uống bằng chung gốm Chu Đậu chế
tác cách nay… 500 năm thời Lê sơ. Nghe cầu kỳ vậy
nhưng cách nay vài năm, chúng được bán rất nhiều với
giá bằng vài lạng trà ở phố Lê Công Kiều từ những
tốp thợ lặn khai thác xác tàu đắm ngoài khơi.
Thị trường trà ở ta
tuy chưa mạnh như cà phê hiện nay nhưng có vẻ đã
khởi sắc. Ở các cửa hàng chuyên trà và cả siêu thị
đã thấy có bán trà Ô long, Thiết Quan âm, Phổ nhĩ,
trà ướp lài, trà xanh kiểu Nhật và dăm loại trà nổi
tiếng khác. Dọc đường đi Đà Lạt, có những cửa hàng
bán trà rất bài bản, có biểu diễn pha trà, nằm trong
các khu du lịch đẹp. Sài Gòn và Hà Nội mở ra nhiều
trà quán với đủ kiều thức cầu kỳ. Phải chăng thời
của trà đang tìm cách quay lại? Cùng với cuộc sống
hối hả, có thể trà và việc uống trà như một nghệ
thuật thưởng ngoạn sẽ có vai trò hơn, để lưu giữ sự
tĩnh tâm cần thiết và an toàn hơn cho sức khỏe.
Có thể trong suốt năm, ta không hề nhớ có một lọai
thức uống như vậy. Nhưng ngày xuân, khi bày bàn thờ
rước ông bà trưa Giao thừa, như một tục lệ, ta sẽ
pha một bình trà ướp sen thơm ngát để dâng cúng.
Trong khói hương trầm, ta chợt thấy lòng nhẹ tênh,
và lúc đó, hương trà nhả ra thứ ký ức xa xưa thời
còn bé thơ vui vầy ngày Tết với ông bà. Và một cơn
bão nhẹ trong tách trà cũng là một điều đặc biệt sẽ
cảm nhận được trong ngày xuân.
Phạm Công Luận


|